vanban.org

Bản án 26/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Thanh T, tại Cơ sở cai nghiện ma túy số B tỉnh An Giang, địa chỉ: Ấp K, xã M, tỉnh An Giang.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính chấp hành quyết định. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính (Lê Thanh T) có quyền khiếu nại; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - A… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa Lê Thanh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Thanh T, tại Cơ sở cai nghiện ma túy số B tỉnh An Giang, địa chỉ: Ấp K, xã M, tỉnh An Giang.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 26/QĐ-TAAn Giang, ngày 06 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Danh Thanh Phát.

2. Thư ký phiên họp: Ông Phan Đình Nguyên.

Ngày 06 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - An Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 113/QĐ-TA ngày 26 tháng 3 năm 2026 đối với:

Họ và tên: Lê Thanh T. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 20/6/1998.

Số căn cước công dân: 091098009835.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 6/12.

Nơi thường trú: Ấp Rạch Củ, xã Giồng Riềng, tỉnh An Giang.

Chỗ ở: Ấp Rạch Củ, xã Giồng Riềng, tỉnh An Giang.

Nghề nghiệp: Không.

Con ông Lê Văn P1 và bà Phạm Thị L.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn Thuận - Chức vụ: Phó Trưởng Công an xã G, tỉnh An Giang (văn bản ủy quyền số: 05/GUQ-CAX ngày 06/4/2026 của Trưởng Công an xã G, tỉnh An Giang).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - An Giang: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Người bị đề nghị là Lê Thanh T có hành vi vi phạm như sau:

Ngày 25/8/2025, sử dụng trái phép chất ma túy; Công an xã G, tỉnh An Giang (gọi tắt là Công an xã) tiến hành lấy mẫu xét nghiệm, kết quả dương tính nên đã lập biên bản làm việc, biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, số tiền 1.500.000 đồng (theo quyết định số: 28/QĐ-XPHC ngày 12/9/2025 của Trưởng Công an xã G, tỉnh An Giang). Đồng thời, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh An Giang (gọi tắt là Chủ tịch xã) ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 01 năm (theo quyết định số: 1180/QĐ-UBND ngày 26/8/2025).

Ngày 01 và ngày 09/3/2026, sử dụng trái phép chất ma túy; Công an xã tiến hành lấy mẫu xét nghiệm, kết quả dương tính nên đã lập biên bản làm việc, biên bản vi phạm hành chính và đề nghị Trung tâm Y tế G, tỉnh An Giang (gọi tắt là Trung tâm Y tG) xác định tình trạng nghiện ma túy, kết quả xét nghiệm xác định: Lê Thanh T nghiện ma túy, loại Methamphetamine. Cho nên, Công an xã lập biên bản làm việc về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng Lê Thanh T không đồng ý đăng ký cai nghiện. Do đó, Công an xã lập hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 19/3/2026, Công an xã ban hành văn bản số: 38/ĐN-CAX đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 5 - An Giang xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Thanh T.

Ý kiến của đại diện Cơ quan đề nghị tại phiên họp: Lê Thanh T là đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả xét nghiệm nghiện ma tuý nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Căn cứ Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 (gọi tắt là Luật xử lý vi phạm hành chính); khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý. Đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Thanh T, tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh An Giang, thời gian từ 12 tháng đến 15 tháng.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Quá trình thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính (gọi tắt là Pháp lệnh số 03); người bị đề nghị đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Xét thấy, Lê Thanh T có hành vi sử dụng ma túy trái phép, kết quả xét nghiệm nghiện ma tuý nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Căn cứ vào Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý và Pháp lệnh số 03, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Công an xã.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Thanh T đã thực hiện đúng theo quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và hồ sơ có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính. Do đó, hồ sơ đề nghị đảm bảo tính hợp pháp.

Người bị đề nghị (Lê Thanh T) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp nhưng vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt người bị đề nghị.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị và kết quả xem xét tại phiên họp có đủ cơ sở xác định: Lê Thanh T là đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị xử phạt vi phạm hành chính và đang chấp hành quyết định quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy (theo quyết định số: 1180/QĐ-UBND ngày 26/8/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh An Giang) tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (sử dụng ngày 01 và ngày 09/3/2026); kết quả xét nghiệm nghiện ma túy nhưng không đồng ý đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, điều này cho thấy Lê Thanh T không đủ khả năng để tự cai nghiện ma túy.

Lê Thanh T là người đã thành niên có đủ năng lực chịu trách nhiệm hành chính, hành vi vi phạm được thực hiện với lỗi cố ý và nguy hiểm cho bản thân, cho xã hội và xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Đồng thời, là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến phát sinh tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Lê Thanh T không có tình tiết tăng nặng; quá trình làm việc (theo các tờ tường trình, biên bản làm việc, biên bản vi phạm hành chính) đã tự nguyện khai báo, thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên có căn cứ được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét thấy, đề nghị của Công an xã đưa Lê Thanh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ và đúng đối tượng theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý nên chấp nhận.

Hồ sơ đề nghị đảm bảo tính hợp pháp nên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Thanh T một thời gian nhất định để chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, tạo điều kiện để Lê Thanh T cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng. Đồng thời, cũng nhằm răn đe và phòng ngừa chung những hành vi vi phạm trong xã hội, hiện nay tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng về số lượng, có tính chất ngày càng phức tạp và đối tượng sử dụng đa số là những thanh thiếu niên tuổi đời còn rất trẻ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, điểm a, d khoản 1 Điều 103, khoản 2 Điều 104 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý.

Khoản 2 Điều 20, khoản 1 Điều 24, Điều 31, Điều 32 và Điều 33 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Thanh T, tại Cơ sở cai nghiện ma túy số B tỉnh An Giang, địa chỉ: Ấp K, xã M, tỉnh An Giang.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính chấp hành quyết định.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính (Lê Thanh T) có quyền khiếu nại; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - An Giang có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã G, tỉnh An Giang và Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh An Giang.

Cỡ chữ