vanban.org

Bản án 26/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lữ Văn B - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:26/2026/HS-ST
Ngày: 06 - 5 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Năng Quân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Độ

2. Ông Nguyễn Khắc Vũ

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Trương Công Luật - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2026/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2026/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:

- Lữ Văn B, sinh năm 1992, tại tỉnh Gia Lai; số CCCD: 066092006179, cấp ngày 28/6/2021; nơi cư trú: Thôn 8A, xã E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ Ng và con bà Lê Thị V; có vợ là bà Lê Thị Ngọc Tr (đã ly hôn); bị cáo có 01 người con sinh năm 2014.

Tiền sự: Ngày 04/7/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số: 58/2024/QĐ-TA.

Tiền án: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/12/2025 đến ngày 08/01/2026 chuyển sang tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Ea H’Leo - Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Đắk Lắk. Có mặt

- Người chứng chứng: Ang Mai Ngọc Ph, sinh năm: 1994; địa chỉ: Thôn 2, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 30/12/2025, tại đoạn đường thuộc thôn 2, xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk, tổ công tác của Công an xã Ea Drăng tiến hành kiểm tra, phát hiện tại hộc phía bên trái của xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Raide, màu sơn xanh - đen, BKS: 47AS - 012.57 do Lữ Văn B điều khiển có 01 ống kim loại màu đen, bên trong có 05 túi nylon không màu, đều chứa chất tinh thể màu trắng, Lữ Văn B khai nhận chất tinh thể màu trắng bên trong 05 túi nylon không màu là ma túy đá Lữ Văn B mua về để sử dụng cho bản thân và phân chia ra nhằm mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời. Công an xã Ea Drăng đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lữ Văn B về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và niêm phong tang vật theo quy định.

Quá trình điều tra đã xác định, Lữ Văn B sau khi chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vào ngày 01/9/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo (nay là khu vực 9) thì Lữ Văn B về sinh sống tại địa phương đến ngày 15/9/2025 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ea Drăng ra Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Lữ Văn B. Đến khoảng cuối tháng 9/2025, Lữ Văn B tái nghiện và sử dụng lại ma túy đá vào tối ngày 29/12/2025 Lữ Văn B mua ma túy đá được và đựng trong 01 túi nylon rồi mang về nhà ở tại thôn 8A, xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk, tại phòng ngủ của mình Lữ Văn B lấy ra 01 ít ma túy đá sử dụng cho bản thân số còn lại chia thành 04 túi nylon nhỏ nhằm mục đích để bán lại cho người khác kiếm lời. Sau đó, Lữ Văn B cho 04 túi nylon nhỏ với 01 túi nylon (túi nylon ban đầu còn sót lại một ít ma túy bên trong) vào trong 01 ống kim loại màu đen cất giấu. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30/12/2025, Lữ Văn B điều khiển xe mô tô nêu trên mang theo ống kim loại chứa ma túy đi đến đoạn đường thuộc thôn 2, xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk thì bị Công an xã Ea Drăng kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.

Quá trình điều tra Lữ Văn B khai nhận: Vào đêm ngày 29/12/2025, B đến thôn 10, xã Ea Drăng mua số ma túy trên của Phan Quang L (tên thường gọi là Ly Què, sinh năm 1985, nơi thường trú: Thôn 10, xã E, tỉnh Đắk Lắk) với số tiền 1.000.000 đồng. Tuy nhiên, Phan Quang L không thừa nhận đã bán ma túy cho B, quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành lấy lời khai, đồng thời đối chất giữa B với L và thu thập các tài liệu, chứng cứ khác nhưng không có căn cứ và tài liệu gì để chứng minh Phan Quang L đã bán ma túy cho B.

Tại bản Kết luận giám định số: 31/KL-KTHS ngày 07/01/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chất tinh thể màu trắng bên trong 05 (năm) túi nylon không màu được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,3978gam. Trong mẫu nước tiểu của Lữ Văn B có chứa chất ma túy, loại Methamphetamine và sản phẩm chuyển hóa của Methamphetamine trong cơ thể (Amphetamine).

Tại bản Cáo trạng số: 39/CT-VKS-HS, ngày 14 tháng 4 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk truy tố bị cáo Lữ Văn Bình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lữ Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lữ Văn B từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lữ Văn B từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo Lữ Văn B phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội danh từ 05 năm đến 05 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 30/12/2025.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Raide, màu sơn xanh - đen, BKS: 47AS - 012.57, số khung RLSDL11ANNV167505, số máy CGA1567395 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone Xs màu đen, số IMEI 357233090517273, số IMEI2 357233090076601 là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;

Đối với sim số 0785.427.207 là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 0,3832 gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 ống kim loại hình trụ tròn màu đen, chiều dài 10cm, đường kính 03 cm không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa (loại chai nước ngọt Sting, nắp chai bằng nhựa màu đỏ), có gắn với 01 ống hút bằng nhựa màu trắng hồng và 01 ống thủy tinh, bị cáo khai nhận vào tối ngày 29/12/2025 sau khi sử dụng xong để tránh việc bị người thân phát hiện, bị cáo đã bỏ vào thùng rác trước nhà. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả, nên không có căn cứ xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra Lữ Văn B khai mua ma túy của Phan Quang L vào tối ngày 29/12/2025. Tuy nhiên, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành lấy lời khai, đối chất giữa bị cáo với Phan Quang L, đồng thời tiến thu thập các tài liệu, chứng cứ khác nhưng không có căn cứ để chứng minh Phan Quang L đã bán ma tuý cho bị cáo, nên không có căn cứ để xử lý Phan Quang L theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

. Về nội dung và tội danh đối với bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Lữ Văn B là đối tượng đang trong diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số: 763a ngày 15/9/2025 của UBND xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk mà lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể vào lúc 09 giờ ngày 30/12/2025, tại đoạn đường thuộc thôn 2, xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk, Công an xã Ea Drăng phát hiện bắt quả tang Lữ Văn B đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại hộc để đồ phía bên trái của xe mô tô BKS 47AS - 012.57 do Lữ Văn B điều khiển 01 ống kim loại màu đen, bên trong có 05 túi nylon không màu, đều chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3978gam, Lữ Văn Bình khai nhận chất tinh thể màu trắng bên trong 05 túi nylon là ma túy đá, Lữ Văn B mua để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác để kiếm lời.

Tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm”.

Tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự quy định về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy”.

Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025). Như vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội: Hội đồng xét xử xét thấy, đây là vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng bị cáo bị truy tố và xét xử về hai tội danh, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cho bản thân và bán lại cho người khác để kiếm lời là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, phải có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên. Xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội và biết tôn trọng pháp luật.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Raide, màu sơn xanh - đen, BKS: 47AS - 012.57, số khung RLSDL11ANNV167505, số máy CGA1567395 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone Xs màu đen, số IMEI 357233090517273, số IMEI2 357233090076601 là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước;

Đối với sim số 0785.427.207 là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 0,3832 gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu đây là vật nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 ống kim loại hình trụ tròn màu đen, chiều dài 10cm, đường kính 03 cm không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: 01 chai nhựa (loại chai nước ngọt Sting, nắp chai bằng nhựa màu đỏ), có gắn với 01 ống hút bằng nhựa màu trắng hồng và 01 ống thủy tinh, bị cáo khai nhận vào tối ngày 29/12/2025 sau khi sử dụng xong bị cáo đã bỏ vào thùng rác trước nhà. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả, nên không có căn cứ xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra bị cáo khai mua ma túy của Phan Quang L. Tuy nhiên, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành lấy lời khai của Phan Quang L, đồng thời đối chất giữa bị cáo với Phan Quang L, cũng như xác minh và thu thập các tài liệu, chứng cứ khác nhưng không có căn cứ để chứng minh Phan Quang L đã bán ma túy cho bị cáo, nên không có căn cứ để xử lý Phan Quang L theo quy định của pháp luật.

Về tội danh, điều luật, mức hình phạt và biện pháp tư pháp mà Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, nên được chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo Lữ Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

1.1. Tuyên bố bị cáo Lữ Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).

1.2. Tuyên bố bị cáo Lữ Văn B phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lữ Văn B 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2.2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lữ Văn B 02 năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

2.3. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự về tổng hợp hình phạt. Buộc bị cáo Lữ Văn B phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 30/12/2025.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Raide, màu sơn xanh - đen, BKS: 47AS - 012.57, số khung RLSDL11ANNV167505, số máy CGA1567395 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone Xs màu đen, số IMEI 357233090517273, số IMEI2 357233090076601 là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;

Đối với sim số 0785.427.207 là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 0,3832 gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 ống kim loại hình trụ tròn màu đen, chiều dài 10cm, đường kính 03 cm không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy;

Đặc điểm vật chứng được lưu tại hồ sơ vụ án.

4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lữ Văn B phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Lữ Văn B có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ