vanban.org

Bản án 26/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 25/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo 06 (Sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Đinh Văn H - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2026/HS-ST
Ngày 25-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bàn Thị Huệ

Bà Đinh Thị Minh Thúy

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5

- Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sòi Hùng Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2026/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Đinh Văn H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 03 tháng 7 năm 1966 tại xã PY, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: bản L, xã PY, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/10; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: không; con ông Đinh Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị X (đã chết); bị cáo có vợ là Đinh Thị Q, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1987, con nhỏ nhất sinh năm 1988; tiền án: không; Tiền sự: không; nhân thân: tại Bản án số 39/2000/HT-ST ngày 02/5/2000 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tại bản án số 60/2005/HSST ngày 09/12/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; tại Bản án số 68/2016/HSST ngày 30/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt bị cáo 04 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Tại quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 25/QĐ-Ta ngày 02/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện PY, tỉnh Sơn La quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đinh Văn H là 24 tháng; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23 tháng 10 năm 2025 đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Đinh Thị Q, sinh năm 1969, nơi cư trú: bản L, xã PY, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 50 phút, ngày 23/10/2025 tổ công tác công an xã PY, tỉnh Sơn La thực hiện nhiệm vụ rà soát, các đối tượng thuộc diện liên quan đến ma túy tại khu vực bản L. Tổ công tác đã đến nhà bị cáo Đinh Văn H có yêu cầu có gì liên quan đến ma túy thì giao nộp, bị cáo đã tự giác giao nộp 01 tùi nilon dạng túi zíp bên trong có 01 gói nilon được gián kín bên trong chưa 07 viên nén màu hồng nghi là hồng phiên và 16 gói nhỏ đều chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine và khai nhận đó là ma túy bị cáo mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và dẫn giải bị cáo Đinh Văn H về Công an xã PY để điều tra làm rõ.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi màu trắng bên trong có 04 gói nilon gói thứ nhất được gói bằng nilon màu đen, gói thứ 2 được gói bằng nilon màu đen, gói thứ 3 được gói bằng nilon màu đen bên trong có 07 viên màu hồng hình trụ tròn, gói thứ 4 được gói bằng nilon màu trắng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, số tiền 7.740.000đ, 01 vi da màu đen, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 mảnh giấy bạc.

Quá trình điều tra, bị cáo Đinh Văn H khai nhận: Khoảng 07 giờ 45 phút, ngày 23/10/2025 khi đang ở nhà tại bản L, xã PY, tỉnh Sơn La thì có một người nam giới tên là N (bị cáo không quen biết) gọi điện thoại cho bị cáo, hỏi có muốn mua ma túy không, do bản thân có sử dụng ma túy nên bị cáo đồng ý và thống nhất mua của N mua túy loại Hồng phiến và ma túy Heroine với số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng) mục đích để sử dụng dần, đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày N gọi điện cho H ra cổng nhà H lấy ma túy, N đưa cho H 01 túi nilon bên trong có 04 gói nilon đựng ma túy loại Heroine và Hồng phiến, H đưa cho N số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng) rồi cầm số ma túy mua được mang vào trong buồn ngủ của H mở ra để kiểm tra. H thấy trong túi nilon đựng 03 gói nilon màu đen (gói thứ nhất và gói thứ hai bên trong đều chưa chất cục màu trắng là ma túy Heroine; gói thứ 3 bên trong có chứa 08 viên màu hồng trên bề mặt mỗi viên nén có ký hiệu chữ WY là ma túy Hồng phiến; 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa 17 gói giấy bạc màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa cục màu trắng là ma túy Heroine. Sau đó H lấy 01 viên ma túy Hồng phiến và gói giấy bạc màu trắng bên trong đựng ma túy Heroine dùng 01 chiếc bật lửa ga màu xanh nghiền nhỏ ma túy Hồng phiến và Heroine dùng 01 chiếc bật lửa ga đốt cháy ma túy sử dụng hết. Sau đó H bị tổ công tác công an xã PY đến làm việc yêu cầu H có gì vi phạm pháp luật thì giao nộp H đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số ma túy còn lại là 01 túi nilon bên trong có đựng 03 gói nilon màu đen (02 gói Heroine, 01 gói đựng 07 viên hồng phiến); 01 gói nilon màu trắng chứa 16 gói giấy bạc màu trắng bên trong mỗi gói giấy bạc đều chứa ma túy Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và dẫn giải Đinh Văn H về Công an xã PY để điều tra làm rõ.

Ngày 23/10/2025, Công an xã PY đã phối hợp với các đơn vị liên ngành tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng số ma túy thu giữ của Đinh Văn H.

Kết quả cân tịnh như sau: 18 gói bên trong có chứa chất bột màu trắng có tổng khối lượng cân tịnh là 6,615g lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu H1 đến H18; 01 gói nilon màu đen bên trong có chưa 07 viên nén màu hồng có khối lượng cân tịnh là 0,713g lấy toàn bộ gửi giám định chất ma túy ký hiệu H19.

Tại Bản kết luận giám định số: 4275 ngày 27/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

- Mẫu ký hiệu H19 gửi giám định là ma tuý; loại Methamphetaminne khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,713g.

Mẫu ký hiệu H1 đến H18 gửi giám định là ma túy loại Heroine (Heroin) khối lượng của mẫu gửi giám định là H1 = 2,460 gam, H2 = 2,356 gam, H3 = 0,122 gam, H4 = 0, 134 gam, H5 = 0,109 gam, H6 = 0,091 gam, H7 = 0,111 gam, H8 = 0, 115 gam, H9 = 0, 100 gam, H10 = 0, 113 gam, H11 = 0, 107 gam, H12 = 0, 121 gam, H13 = 0, 116 gam, H14 = 0, 110 gam, H15 = 0, 135 gam, H16 = 0, 107 gam, H17 = 0, 104 gam, H18 = 0, 104 gam.

- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 6,615 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

Ngày 27/10/2025 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận giám định số 1275/KL-KTHS đối với số tiền 7.740.000đ tạm giữ của Đinh Văn H “Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật”.

Ngày 23/10/2025 Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại của bị cáo có lưu số điện thoại 0355735165 tên N mà bị cáo khai rằng đã liên hệ để bán ma túy cho bị cáo, quá trình tra cứu thông tin về chủ thuê bao là bà Đinh Thị Thiên, sinh năm 1961, cư trú bản Giáo, xã PY. Quá trình làm việc bà Thiên không còn sử dụng số thuê bao trên và không biết và liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Qúa trình điều tra xác định ngày 02/4/2025 bị cáo Đinh Văn H đã được UBND xã Huy Tân, huyện PY cấp giấy chứng nhận chấp hành xong Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, đến ngày 23/10/2025 bị cáo có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, do đó không cấu thành tội sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị Q trình bày: Đối với số tiền 7.740.000 đồng hiện đang bị tạm giữ là tiền mà vợ chồng bà đã vay mượn của anh em họ hàng chuẩn bị tổ chức đám hỏi cho con, nay đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho cho vợ chồng để trả lại cho anh em họ hàng.

Cáo trạng số: 23/CT-VKS ngày 11 tháng 02 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La truy tố bị cáo Đinh Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt đối với bị cáo như sau:

- Áp dụng điểm n khoản 2, 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Văn H từ 06 (Sáu) năm, đến 06 (Sáu) 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 23/10/2025.

Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy một phong bì đã được niêm phong bên trong gồm: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong gồm có: 01 túi zip nilon màu trắng, 03 gói nilon màu đen, 01 gói nilon màu trắng và 16 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga màu xanh, mẫu giám định vụ Đinh Văn H mẫu H1 = 2,34 gam, H2 = 2,31 gam, H 19 = 0,68 gam.

Trả lại số tiền là 7.740.000đ (bảy triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) cho bị cáo Đinh Văn H và bà Đinh Thị Q được quyền quản lý, sử dụng.

Trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax; 01 ví da màu đen cho bị cáo được quyền quản lý, sử dụng.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra, không có ý kiến gì tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quá trình tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Khu vực 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Sơn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ 00 phút ngày 23/10/2025 tại bản L, xã PY, tỉnh Sơn La; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến sự việc và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 23/10/2025, bị cáo Đinh Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,736 gam (Không phẩy bảy trăm ba mươi sáu gam) Methaphetamine và 6,615 gam (Sáu phẩy sáu trăm mười lăm gam) ma tuý, loại Heroine; mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý thuộc trường hợp quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, quy định mức hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.

Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy, bị cáo đã có 02 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện PY, tỉnh Sơn La xử phạt vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn là 24 tháng; bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, để đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng, quá trình điều tra có thu giữ được của bị cáo 01 chiếc điện thoại có giá trị, do đó cấn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo một khoản tiền nhất định là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) phong bì niêm phong bên trong gồm có mẫu giám định vụ Đinh Văn H mẫu H1 = 2,34 gam, H2 = 2,31 gam, H 19 = 0,68 gam là vật chứng sau khi cân tịnh tạm giữ của bị cáo. Xét là những vật nhà nước cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, do đó cần tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 túi zip nilon màu trắng, 03 gói nilon màu đen, 01 gói nilon màu trắng và 16 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga màu xanh. Xét là vật không có giá trị sử dụng, do đó cần tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với số tiền 7.740.000 đồng thu giữ tại nhà bị cáo. Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa xác định: Số tiền là của vợ chồng bị cáo vay của anh em, họ hàng để chuẩn bị cho việc ăn hỏi cho con, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, do đó cần trả lại cho bị cáo và vợ bị cáo bà Đinh Thị Q được quyền quản lý, sử dụng.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax. Quá trình điều tra và thẩm vấn tại phiên tòa, xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo đã dùng để liên lạc mua ma túy, quá trình điều tra không xác định được người đã bán ma túy cho bị cáo dó đó không phải công cụ sử dụng vào việc phạp tội, cần tuyên trả cho bị cáo được quyền quản lý, sự dụng là đúng với quy định của pháp luật.

Đối với 01 ví da màu đen. Quá trình điều tra và thẩm vấn tại phiên tòa, xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo, không sử dụng vào việc phạm tội của bị cáo, cần tuyên trả cho bị cáo được quyền quản lý, sự dụng là đúng với quy định của pháp luật.

- Đối với người đàn ông tên là N, là người bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu, chứng cứ nào xác định N đã bán ma túy cho bị cáo; không làm rõ được nhân thân, lai lịch của người đàn ông này. Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xử lý, do đó không đề cập đến việc xử lý.

- Đối với Bà Đinh Thị Thiên là người chủ thuê bao số 0355.735.165 mà bị cáo Đinh Văn H khai đã gọi để trao đổi mua bán trái phép ma túy đối với bị cáo. Quá trình điều tra xác định bà Thiên đã không còn sử dụng số thuê bao trên, không thừa nhận việc mua bán ma túy với bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Nên không đủ căn cứ để xử lý, do đó Hội đồng xét xử không xét xét giải quyết.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo vào ngày 23/10/2025 tại gia đình. Quá trình điều tra và thẩm vẫn công khai tại phiên tòa xác định. Ngày 24/04/2021 bị cáo Đinh Văn H bị Tòa án nhân dân huyện PY tỉnh Sơn La (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Sơn La) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng. Chấp hành xong ngày 24/02/2023, khi trở về địa phương bị cáo đã chấp hành xong việc quản lý sau cai cai nghiện ma túy vào ngày 02/4/2025. Do đó hành vi sử dụng ma túy của bị cáo không cấu thành tội sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a của Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử không đề cập đến việc giải quyết.

Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bị cáo được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Căn cứ điểm n khoản 2, 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo 06 (Sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2025.

Áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo là 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy một phong bì đã được niêm phong bên trong gồm: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong gồm có: 01 túi zip nilon màu trắng, 03 gói nilon màu đen, 01 gói nilon màu trắng và 16 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga màu xanh, mẫu giám định vụ Đinh Văn H mẫu H1 = 2,34 gam, H2 = 2,31 gam, H 19 = 0,68 gam.

Trả lại số tiền là 7.740.000đ (bảy triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) cho bị cáo Đinh Văn H và bà Đinh Thị Q được quyền quản lý, sử dụng.

Trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax mầu vàng, gắn một sim; 01 ví da màu đen cho bị cáo được quyền quản lý, sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Sơn La ).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Văn H.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (25/3/2026).

Cỡ chữ