vanban.org

Bản án 26/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang, tỉnh An Giang Tuyên án 22/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim H phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim H 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim H phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2026/HS-ST
Ngày 22/4/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa: Bà Lữ Cẩm Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Thị Mỹ Diên Hải;

2/ Ông Đặng Quốc Cần.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lâm Ngọc Tuyền– Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Thành Thủ- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 18/2026/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2026, về tội “Đánh bạc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2026/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Kim H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1966 tại xã L, tỉnh An Giang; Căn cước công dân: 091166009396 cấp ngày 11/8/2021; Nơi cấp: Cục C về TTXH; Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã L, tỉnh An Giang; Trình độ văn hóa/Học vấn: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Chăn nuôi; Con ông Nguyễn Thanh M (đã chết) và bà Trần Thị M1, sinh năm 1945; A, chị, em ruột có 05 người, lớn nhất sinh năm 1964, nhỏ nhất sinh năm 1972; Chồng tên Đào Văn B, sinh năm 1962 và có 01 người con sinh năm 1994; Gia đình bị cáo không thuộc diện chính sách hay có công với Đảng và Nhà nước;

- Tiền án: Năm 2023 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc” theo bản án hình sự số 16/2023/HS-ST ngày 15/3/2023. Chấp hành xong hình phạt theo giấy chứng nhận số 188/GCN ngày 13/4/2024 nhưng chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: Không có.

- Về nhân thân: Năm 2019 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” theo bản án hình sự sơ thẩm số 05/2019/HS-ST ngày 25/01/2019 (đã chấp hành xong)

Năm 2019 bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo bản án hình sự sơ thẩm số 10/2019/HS-ST ngày 14/3/2019 (đã chấp hành xong)

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 2663/LC-VPCQCSĐT ngày 22/9/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Huỳnh Cẩm N, sinh năm 1996 (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã L, tỉnh An Giang.

- Bà Ngô Thị T, sinh năm 1969 (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số C T, khu phố B, phường R, tỉnh An Giang.

- Bà Huỳnh Thị M2, sinh năm 1973 (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp N, xã L, tỉnh An Giang.

- Bà Huỳnh Thị Bích Đ, sinh năm 1973 (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 14 giờ 50 phút ngày 14/7/2025, tại nhà bà Huỳnh Cẩm N, Công an xã L tiến hành kiểm tra, bắt quả tang các đối tượng gồm: Huỳnh Cẩm N; Nguyễn Thị Kim H; Huỳnh Thị M2; Huỳnh Thị T1; Huỳnh Thị Bích Đ; Ngô Thị T có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài tứ sắc. Tiền thu giữ tại chiếu bạc 430.000đ; Dụng cụ tham gia đánh bạc thu giữ gồm: 02 (hai) chiếu lác (đã qua sử dụng); 08 (tám) bộ bài tứ sắc.

Kết quả điều tra các đối tượng khai nhận: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 14/7/2025, Nguyễn Thị Kim H - Ngụ tại: ấp B, xã L, tỉnh An Giang đi đến nhà của Huỳnh Cẩm N - Ngụ tại: ấp N, xã L, tỉnh An Giang mục đích để lấy tiền của N nợ H trước đó. Khi đến nơi, H thấy tại nhà Huỳnh Cẩm N có Huỳnh Thị M2; Huỳnh Thị T1 đang tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức chơi “bài sịp” có T thì đang ngồi xem. Sau đó T chủ động đề nghị chuyển sang đánh bài “tứ sắc” được ăn thua bằng tiền và tất cả đồng ý. Lúc này, T rủ H hùn tiền để chơi đánh bạc, T sẽ là người trực tiếp tham gia chơi với N; T1 và M2, còn số tiền thắng hay thua thì bà T và H sẽ chia đôi nhau thì H đồng ý và H nằm võng kế bên T xem mọi người đánh. Tiền cá cược mỗi ván chơi thắng thua với số tiền tới chơn là 10.000, còn tới quan là 20.000đ. Sau khi tất cả chơi được vài ván thì có Huỳnh Thị Bích Đ đến, thì N đi vệ sinh và nhờ Đ đánh bài dùm thì Đ đồng ý. Sau đó, các đối tượng bắt đầu chơi thêm vài ván nữa phát hiện lực lượng Công an đến thì tấc cả bỏ chạy ra phía sau nhà N thì bị lực lượng Công an xã L kiểm tra bắt quả tang. Quá trình làm việc các đối tượng thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A thu giữ gồm: 02 (hai) chiếu lác (đã qua sử dụng); 08 (tám) bộ bài tứ sắc; Tiền Việt Nam thu giữ tại chiếu bạc 430.000 đồng (bốn trăm ba mươi nghìn đồng); Tiền kiểm tra thu giữ trên người các con bạc tổng cộng 2.813.000đ gồm: Huỳnh Cẩm N số tiền 335.000đ; Huỳnh Thị M3 số tiền 160.000đ; Huỳnh Thị T1 số tiền 1.350.000đ; Ngô Thị T số tiền 870.000đ; Huỳnh Thị Bích Đ số tiền 98.000đ, riêng H khi vào nhà N không mang theo tiền. Quá trình làm việc các đối tượng thừa nhận mang tiền theo và dùng vào đánh bạc.

Tại bản cáo trạng số: 34/CT-VKSKV5 ngày 10/03/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim H về tội “Đánh bạc” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim H từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo hoàng cảnh gia đình khó khăn nên bị cáo được miễn hình phạt bổ sung.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tuyên sung quỹ nhà nước: Tiền Việt Nam thu giữ tại chiếu bạc và tiền thu giữ trên các con bạc thừa nhận đánh bạc số tiền: 3.243.000đ.

Tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng: 02 (hai) chiếu lác (đã qua sử dụng) và 08 (tám) bộ bài tứ sắc.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- An Giang.

Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt bị cáo và cho xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Xét trong điều tra đã thu thập được lời khai của những người này, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai tại phiên tòa. Do đó, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện:

Vào ngày 14/7/2025, Nguyễn Thị Kim H đi đến nhà của Huỳnh Cẩm N mục đích để lấy tiền của N còn nợ H trước đó. Khi đến thấy nhà N đang đánh bài “tứ sắc” ăn thua bằng tiền. Lúc này T rủ H hùn tiền để chơi đánh bạc, T sẽ là người trực tiếp tham gia chơi với N; T1 và M2, còn số tiền thắng hay thua thì T và H sẽ chia đôi nhau khi nghĩ chơi thì H đồng ý nên khi đó tấc cả chơi hai ván thì bị lực lượng Công an xã L kiểm tra bắt quả tang. Tiền thu tại chiếu bạc là 430.000đ. Tiền kiểm tra thu giữ trên người các đối tượng (Nhung, M2, T1, T, Đ) số tiền là 2.813.000đ. Quá trình làm việc các đối tượng N, M2, T1, T, Đ thừa nhận mang tiền theo và dùng vào đánh bạc. Tổng số tiền đánh bạc thu giữ là 430.000đ + 2.813.000đ = 3.243.000đ, do không đủ định lượng để khởi tố các đối tượng tham gia đánh bạc gồm Huỳnh Cẩm N; Huỳnh Thị M2; Huỳnh Thị T1; Huỳnh Thị Bích Đ; Ngô Thị T. Riêng đối với Nguyễn Thị Kim H do có tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên bị khởi tố theo quy định pháp luật.

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự thì “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng vật chứng thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, có cơ sở kết luận cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang truy tố bị cáo H đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với Huỳnh Cẩm N; Huỳnh Thị M3; Huỳnh Thị T1; Huỳnh Thị Bích Đ; Ngô Thị T2 có hành vi đánh bạc, ngoài ra N có hành vi dùng nhà, cung cấp bài để tổ chức đánh bạc do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an xã L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là phù hợp.

Hành vi phạm tội của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, không những vi phạm pháp luật mà còn gây mất an ninh trật tự ở địa phương nơi xảy ra vụ án và đây còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác cho xã hội. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực và nhận thức được hành vi “Đánh bạc” thắng thua bằng tiền là một tệ nạn xã hội đã được pháp luật nghiêm cấm. Bị cáo đã 03 lần bị Tòa án xét xử phạm tội “Đánh bạc” (Trong đó 01 lần xử phạt cải tạo không giam giữ và 02 lần xử phạt tù có thời hạn) nhưng bị cáo không biết khắc phục sai lầm để quay về con đường làm ăn chân chính mà lại tiếp tục phạm tội “Đánh bạc” trong khi bản thân chưa được được xóa án tích. Với hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX nghị án thảo luận cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo lớn tuổi đang bị bệnh và bị cáo còn phải chăm sóc con bị bệnh đang hưởng trợ cấp Nhà nước; có trình độ học vấn thấp; số tiền đánh bạc không lớn. Do đó, cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét cho bị cáo khi lượng hình.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa hội đồng xét xử thấy rằng bản thân không có thu nhập ổn định, đã lớn tuổi, không có khả năng để thi hành, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:

- Đối với Tiền Việt Nam thu giữ tại chiếu bạc là 430.000đ và tiền thu giữ trên người các con bạc thừa nhận đánh bạc số tiền là 2.813.000đ, tổng số tiền là 3.243.000đ đã được tạm giữ trong vụ án, xét thấy đây là số tiền nêu trên sử dụng cho hành vi đánh bạc nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 02 (hai) chiếu lác (đã qua sử dụng) và 08 (tám) bộ bài tứ sắc đây là các vật chứng dùng vào việc đánh bạc đến nay không còn giá trị sử dụng nên cần xử tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm nhưng bị cáo có đơn xin miễn án phí nên bị cáo được miễn án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim H phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim H 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về biện pháp tư pháp áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

+ Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) chiếu lác (đã qua sử dụng) và 08 (tám) bộ bài tứ sắc đây là các vật chứng dùng vào việc đánh bạc đến nay không còn giá trị sử dụng.

+ Tịch thu Ngân sách Nhà nước Tiền Việt Nam thu giữ tại chiếu bạc là 430.000đ và tiền thu giữ trên người các con bạc thừa nhận đánh bạc số tiền là 2.813.000đ, tổng số tiền là 3.243.000đ.

Vật chứng trên hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5- An Giang đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 34/QĐ-VKS ngày 10/03/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 12 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nhưng bị cáo có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ