vanban.org

Bản án 26/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 29/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Tư H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Tư H 02 (hai) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 10-10-2025). Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Tư H - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Tư H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2026/HS-ST
Ngày 29-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phú Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lý Trung Hiếu

Bà Hà Thị Minh Quế

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Anh Đào –Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Bích Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Đặng Tư H –Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 21-11-1988 tại Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn Y, xã X, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn L (đã chết) và con bà Phạm Thị H, sinh năm 1960; vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Năm 2016 bị Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự:

- Ngày 14-9-2015 bị Công an huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Chưa chấp hành).

- Ngày 01-12-2015 Công an huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Chưa chấp hành).

Nhân thân:

- Năm 2018 bị Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Năm 2020 bị Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10-10-2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Tư H tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Khoa tư vấn và điều trị nghiện chất- Trung tâm y tế huyện Văn Yên từ ngày 15-02-2023 theo Quyết định số 328/QĐ-YBND ngày 29-11-2022 của Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái (nay là xã X, tỉnh Lào Cai). Đến ngày 31-01-2025, Đặng Tư H đã chấm dứt điều trị do tự nguyện xin ra khỏi chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

Khoảng 07 giờ ngày 09-10-2025, Đặng Tư H đi bộ từ nhà ra nút giao IC14 cao tốc Nội Bài-Lào Cai rồi bắt xe ôm đi sang khu vực xã Lương Sơn, tỉnh Lào Cai để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến khu vực trung tâm xã Lương Sơn, Đặng Tư H bảo người đàn ông làm nghề xe ôm đứng đợi còn Đặng Tư H đi bộ một mình lên khu vực bản người Mông gặp và mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đặng Tư H quay lại tìm người xe ôm lúc trước để đi về nhà. Khoảng gần 12 giờ cùng ngày, khi về đến khu vực thôn Đồng Tâm, xã Mậu A, tỉnh Lào Cai, Đặng Tư H xuống xe, trả tiền công cho người xe ôm. Sau đó Đặng Tư H đi lên đồi quế gần nhà thờ lấy gói ma túy ra cho vào xi lanh nhựa, lấy nước cất (đã chuẩn bị từ trước), pha chế ma túy rồi một mình sử dụng bằng hình thức tiêm trực tiếp vào cơ thể. Sử dụng ma túy xong, Đặng Tư H mang toàn bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy về nhà cho vào bếp củi đốt hết. Đến khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, Công an xã X, tỉnh Lào Cai triệu tập Đặng Tư H đến làm việc, tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Đặng Tư H cho kết quả dương tính. Công an xã X đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của Đặng Tư H để trưng cầu giám định.

Tại bản Kết luận giám định số: 2513/KL-KTHS ngày 11-10-2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: Tìm thấy Morphine, 6-MAM trong chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu của Đặng Tư H- sinh năm 1988 trú tại Thôn Y, xã X, tỉnh Lào Cai được niêm phong trong phong bì giấy gửi giám định.

+ Morphin có trong sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể người.

+ 6-MAM là chất chuyển hóa của Heroine trong cơ thể người

Tại Biên bản xác minh ngày 09-10-2025 với Khoa tư vấn và điều trị nghiện chất thuộc trung tâm y tế khu vực Văn Yên, tỉnh Lào Cai cho kết quả: Trước khi Đặng Tư H chấm dứt điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế thì Đặng Tư H đang điều trị ở giai đoạn duy trì liều. Đặng Tư H chưa hoàn thành xong điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế để ra khỏi chương trình. Trường hợp Đặng Tư H không tiếp tục điều trị khi chưa hoàn thành điều trị được coi là tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

Cáo trạng số 44/CT-VKS-KV3 ngày 22-12-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai truy tố Đặng Tư H về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Tư H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Tư H từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù.

Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Đề nghị tuyên theo quy định của pháp luật

Bị cáo Đặng Tư H khai báo thành khẩn, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đã đủ cơ sở kết luận: Đặng Tư H là đối tượng tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Khoa tư vấn và điều trị nghiện chất- Trung tâm y tế huyện Văn Yên từ ngày 15-02-2023 theo Quyết định số 328/QĐ-UBND ngày 29-11-2022 của Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái (nay là xã X, tỉnh Lào Cai) nhưng đến ngày 31-01-2025, Đặng Tư H đã tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuộc phiện bằng thuốc thay thế thì Đặng Tư H lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể, khoảng 07 giờ ngày 09-10-2025, Đặng Tư H đi xe ôm đến xã Lương Sơn, tỉnh Lào Cai rồi đi lên khu vực bản của người Mông mua của một người đàn ông không quen biết một gói ma túy loại Heroine với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đặng Tư H lại đi xe ôm về đến khu vực thôn Trung Tâm, xã Mậu A thì trả tiền xe ôm rồi đi bộ lên khu vực đồi cây, một mình sử dụng ma túy bằng cách tiêm vào cơ thể. Sử dụng ma túy xong, Đặng Tư H mang các dụng cụ dùng để sử dụng ma túy về nhà và đốt hết.

Hành vi của bị cáo Đặng Tư H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Hiện nay Nhà nước ta có nhiều chủ trương nhằm phòng, chống và đẩy lùi loại tệ nạn này, từ tệ nạn ma túy làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương, bị dư luận xã hội lên án. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Năm 2015, bị cáo bị xử phạt hành chính 02 (hai) lần nhưng đều chưa chấp hành nên chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Năm 2018 bị cáo đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích; Năm 2020 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đã được coi là chưa áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Đối với lần bị kết án năm 2016, bị cáo khai nhận đã nhờ người khác bồi thường hộ nhưng không có căn cứ chứng minh. Kết quả làm việc thể hiện bị hại vẫn chưa nhận được tiền bồi thường. Do đó, xác định bị cáo chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự. Theo giải đáp tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03-4-2019 của Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo không được đương nhiên xóa án tích.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Như đã phân tích ở trên, bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, do đó lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với người ông làm nghề xe ôm và người đàn ông đã bán ma túy cho Đặng Tư H, bị cáo không biết rõ tên tuổi, địa chỉ của những người này, cũng không có tài liệu, chứng cứ gì khác nên không có căn cứ để xác minh, xem xét, xử lý là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vưc 3 – Lào Cai là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Tư H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Tư H 02 (hai) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 10-10-2025).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Đặng Tư H.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ