vanban.org

Bản án 26/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chu Thị H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long nhận được quyết định thi hành án. Giao người bị kết án Chu Thị H cho Ủy ban nhân dân… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc bị cáo Chu Thị H - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 –VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2026/HS-ST
Ngày 24 – 3 – 2026

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Châu Ngọc.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhãn – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2026/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2026/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Chu Thị H, sinh ngày 01/01/1963 tại tỉnh N; nơi cư trú: ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn T (chết) và bà Phạm Thị T (chết); chồng Nguyễn Văn T và 02 người con (lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1990).

Tiền án: 01 lần. Vào ngày 16/01/2025, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long) xử phạt số tiền 20.000.000 đồng về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Vào ngày 24/10/2017, bị Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Long ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền.

- Vào ngày 23/9/2022, bị Công an xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là Công an xã N, tỉnh Vĩnh Long) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền.

- Vào ngày 22/01/2024, bị Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Long ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền. Bị cáo đã đóng phạt xong vào ngày 01/02/2024.

Bị cáo tại ngoại – có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Việt T – Luật sư Văn phòng Luật sư C Đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh Long; địa chỉ: số 16A đường N, phường L, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

- Người làm chứng:

1/ Bà Mai Thị Bé B, sinh năm 1959; nơi cư trú: ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

2/ Bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1970; nơi cư trú: ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

3/ Bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1979; nơi cư trú: ấp Đ, phường Đ, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

4/ Bà Võ Thị Ngọc H, sinh năm 1986; nơi thường trú: Số 59/8 đường Z, Khu phố N, phường C, thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

5/ Bà Trần Thị T, sinh năm 1956; nơi cư trú: ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

6/ Bà Nguyễn Thị Như T, sinh năm 1968; nơi cư trú: ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

7/ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1976; nơi cư trú: ấp M, xã C, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

8/ Bà Phan Thị Ả, sinh năm 1969; nơi cư trú: ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

9/ Ông Huỳnh Tấn K, sinh năm 1969; nơi cư trú: ấp Đ, phường Đ, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/7/2025, Chu Thị H đến quán nước giải khát của bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1970, ngụ ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long để uống nước. Trong quán có Mai Thị Bé B, Nguyễn Thị Như T, Huỳnh Tấn K, Phan Thị Ả, Huỳnh Thị D, Võ Thị Ngọc H, Nguyễn Thị T. Tất cả rủ nhau chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức chơi đánh bài binh ấn độ (binh 06 lá). Sau đó, bà Phiến lấy 06 bộ bài tây đem ra để cho những người này chơi đánh bài ăn thua bằng tiền.

Hình thức đánh bạc là chơi đánh bài binh ấn độ (binh 06 lá) bằng bộ bài tây 52 lá, chia làm 04 tụ gồm có: H, Bé B, K, T1 mỗi người 01 tụ (ai thích thì làm cái); còn Ả, D, H, T2 ké tụ chính. Người làm cái chia cho mỗi tụ chơi chính 06 lá bài, sau đó người chơi chính và người làm cái phân bài thành 02 chi, mỗi chi 03 lá bài. Người chơi dựa trên số nút bài của mỗi chi để làm căn cứ tính thắng thua với người làm cái. Mức độ ăn thua của mỗi người chơi khi đặt là từ 10.000 đồng đến 30.000 đồng. H cùng với Bé B, Ả, D, H, T1, T2 và K chơi đánh bạc đến khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an xã Shú đến kiểm tra phát hiện nên tiến hành lập biên bản vi phạm. Lúc này còn có mặt Trần Thị T3, sinh năm 1956, ngụ ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long.

Tang vật tạm giữ gồm: 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 05 bộ bài tây 52 lá chưa sử dụng; tiền tang tại chiếu bạc là 250.000 đồng.

- Thu giữ của Chu Thị H số tiền: 1.200.000 đồng;

- Thu giữ của Mai Thị Bé B số tiền: 190.000 đồng;

- Thu giữ của Trần Thị T số tiền: 730.000 đồng;

- Thu giữ của Huỳnh Thị D số tiền: 120.000 đồng;

- Thu giữ của Võ Thị Ngọc H số tiền: 140.000 đồng;

- Thu giữ của Nguyễn Thị Như T số tiền: 190.000 đồng;

- Thu giữ của Nguyễn Thị T số tiền: 180.000 đồng;

- Thu giữ của Huỳnh Tấn K số tiền: 140.000 đồng;

Quá trình điều tra, xác định được H cùng với Bé B, Ả, D, H, T1, T2 và K đã tham gia đánh bạc với số tiền như sau:

- Chu Thị H mang theo số tiền 1.200.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng để tham gia chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền. Mỗi bàn H đặt từ 10.000 đồng đến 30.000 đồng. H tham gia chơi tụ chính được khoảng 30 phút (chơi khoảng 05- 06 bàn) thắng được số tiền là 30.000 đồng, H đang đặt 30.000 đồng để chơi bàn tiếp theo thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện lập biên bản. Tiền H để lại tại chiếu bạc là 30.000 đồng. Trong số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của H thì có 100.000 đồng là tiền H sử dụng để đánh bạc.

- Mai Thị Bé B: Tham gia chơi đánh bạc (chơi tụ chính) được khoảng 30 phút thua hết số tiền 30.000 đồng, Bé B đang đặt 30.000 đồng để chơi bàn tiếp theo thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện lập biên bản. Tiền Bé B để lại tại chiếu bạc là 30.000 đồng. Số tiền 190.000 đồng Công an thu giữ của Bé B là tiền Bé B sử dụng để đánh bạc.

- Phan Thị Ả: Tham gia chơi đánh bạc (ké tụ) được khoảng 30 phút thua hết số tiền 60.000 đồng, Ả đang đặt 20.000 đồng để chơi bàn tiếp theo thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện lập biên bản. Tiền Ả để lại tại chiếu bạc là 20.000 đồng.

- Huỳnh Thị D: Tham gia chơi đánh bạc (ké tụ) được khoảng 30 phút thua hết số tiền 20.000 đồng, D đang đặt 20.000 đồng để chơi bàn tiếp theo thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện lập biên bản. Tiền D để lại tại chiếu bạc là 20.000 đồng. Số tiền 120.000 đồng Công an thu giữ của D là tiền D sử dụng để đánh bạc.

- Võ Thị Ngọc H: Tham gia chơi đánh bạc (ké tụ) được khoảng 30 phút thua số tiền 20.000 đồng, H đang tham gia đặt cược số tiền 10.000 đồng để chơi bàn tiếp theo thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra lập biên bản. Tiền H để lại tại chiếu bạc là 10.000 đồng. Số tiền 140.000 đồng Công an thu giữ của H là tiền H sử dụng để đánh bạc.

- Nguyễn Thị Như Th: T tham gia chơi đánh bạc (chơi tụ chính) được khoảng 30 phút thua số tiền 30.000 đồng, T đang tham gia đặt cược số tiền 30.000 đồng để trên chiếu bạc để chơi tiếp thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra lập biên bản. Số tiền 190.000 đồng Công an thu giữ của Th là tiền Th sử dụng để đánh bạc.

- Nguyễn Thị T: T tham gia chơi đánh bạc (ké tụ) được khoảng 30 phút kết quả huề vốn, T đang tham gia đặt cược số tiền 20.000 đồng để trên chiếu bạc để chơi tiếp thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra lập biên bản. Số tiền 180.000 đồng Công an thu giữ của T là tiền T sử dụng để đánh bạc.

- Huỳnh Tấn K: Tham gia chơi đánh bạc (chơi tụ chính) được khoảng 30 phút thắng được số tiền 90.000 đồng để trên chiếu bạc thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra lập biên bản. Số tiền 140.000 đồng Công an thu giữ của K là tiền K sử dụng để đánh bạc.

Như vậy, tổng số tiền tham gia đánh bạc vào ngày 27/7/2025 của các đối tượng là 1.310.000 đồng (Một triệu ba trăm mười ngàn đồng).

Đối với Nguyễn Thị Kim P (chủ quán): Là người cung cấp 06 bộ bài tây cho những người trên tham gia chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền. Sau khi chơi xong thì những người chơi sẽ trả cho bà P số tiền là 50.000 đồng/01 bộ bài đã sử dụng nhưng P chưa nhận tiền thì bị Công an đến kiểm tra lập biên bản. Còn Trần Thị Th: có mặt tại quán của bà P để uống nước, Th không có tham gia chơi đánh bạc.

Qua xác minh Chu Thị H có 01 tiền án về tội đánh bạc, cụ thể: Ngày 16/01/2025, Chu Thị H bị Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long nay là Toà án nhân dân Khu vực 2 – Vĩnh Long xử phạt 20.000.000 đồng (theo bản án số: 07/2025/HS-ST ngày 16/01/2025) nhưng chưa được xóa án tích nên ngày 28/8/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Chu Thị H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Đối với Mai Thị Bé B, Phan Thị Ả, Huỳnh Thị D, Võ Thị Ngọc H, Nguyễn Thị Như Th, Nguyễn Thị T, Huỳnh Tấn K có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền nhưng số tiền tham gia đánh bạc ngày 27/7/2025 chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, những người này chưa chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hay bị kết án về tội đánh bạc, gá bạc, tổ chức đánh bạc nên Công an xã S đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền mỗi người 1.500.000 đồng.

Đối với Nguyễn Thị Kim P có cung cấp bài cho các đối tượng tham gia chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền tại địa điểm quán nước của P để thu lợi nhưng hành vi của Phiến chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc hoặc gá bạc nên Công an xã Sđã ra quyết định xử phạt hành chính P với số tiền là 7.500.000 đồng.

- Việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đang tạm giữ: 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 05 bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng; số tiền tang tại chiếu bạc là 250.000 đồng và số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của Chu Thị H (trong đó có 100.000 đồng là tiền H sử dụng vào việc đánh bạc).

Công an xã S đã trả lại số tiền 730.000 đồng cho Trần Thị T.

Đối với số tiền 190.000 đồng của Bé B, số tiền 120.000 đồng của D, số tiền 140.000 đồng của H, số tiền 190.000 đồng của Th, số tiền 180.000 đồng của T, số tiền 140.000 đồng của K (trong số tiền đã thu giữ của những người tham gia chơi đánh bạc lúc bị phát hiện lập biên bản) được sử dụng vào việc đánh bạc nên Công an xã S đã tịch thu số tiền này sung vào ngân sách nhà nước khi xử phạt vi phạm hành chính.

Tại Cáo trạng số: 37/CT-VKSKV2 ngày 26/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Chu Thị H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Chu Thị H thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân khu vực 2 - Vĩnh Long truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan.

Bị cáo H khai nhận, vào lúc 12 giờ 20 phút ngày 27/7/2025 Chu Thị H lại tiếp tục tham gia chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài binh 06 lá cùng với Mai Thị Bé B, Phan Thị Ả, Huỳnh Thị D, Võ Thị Ngọc H, Nguyễn Thị Như T, Nguyễn Thị T và Huỳnh Tấn K tại quán nước của bà Nguyễn Thị Kim P thuộc ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long bị Công an xã S, tỉnh Vĩnh Long phát hiện lập biên bản. Số tiền bị cáo H tham gia đánh bạc là 1.310.000 đồng. Bị cáo biết bị cáo vi phạm pháp luật, vô cùng ăn năn hối cải, bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét xử án nhẹ cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long trình bày luận tội vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo Chu Thị H theo tội danh và Điều luật đã nêu trong cáo trạng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Chu Thị H phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo cụ thể như sau:

Áp dụng khoản 1 khoản 3 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Chu Thị H từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị xử phạt bị cáo 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng và 05 bộ bài tây loại 52 lá chưa qua sử dụng.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo dùng vào đánh bạc và tiền thu tại chiếu bạc 350.000 đồng.

Trả lại cho bị cáo H số tiền 1.100.000 đồng nhưng đề nghị tạm giữ để đảm bảo thi hành án

Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do bị cáo là người cao tuổi.

Ông Nguyễn Việt T bào chữa cho bị cáo Chu Thị H trình bày quan điểm bảo vệ và đề nghị: Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có những tình tiết giảm nhẹ: phạm tội gây thiệt hại không lớn theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có chồng tham gia cách mạng, phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội giản đơn, hoàn cảnh kinh tế gia đình bấp bênh, bị cáo nội trợ trong gia đình, bị cáo trình độ học vấn thấp, không am hiểu pháp luật.

Đề nghị áp dụng điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo không dám tái phạm nữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những chứng cứ xác định có tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tang tài vật thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án: Bị cáo Chu Thị H là người đã bị kết án về tội đánh bạc chưa được xoá án tích nhưng lúc 12 giờ 20 phút ngày 27/7/2025 Chu Thị H lại tiếp tục tham gia chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài binh 06 lá cùng với Mai Thị Bé B, Phan Thị Ả, Huỳnh Thị D, Võ Thị Ngọc H, Nguyễn Thị Như T, Nguyễn Thị T và Huỳnh Tấn K tại quán nước của bà Nguyễn Thị Kim P thuộc ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long bị Công an xã S, tỉnh Vĩnh Long phát hiện lập biên bản. Qua điều tra đã chứng minh được số tiền H tham gia đánh bạc là 1.310.000 đồng (Một triệu ba trăm mười ngàn đồng).

Còn lại các đối tương Mai Thị Bé B, Phan Thị Ả, Huỳnh Thị D, Võ Thị Ngọc H, Nguyễn Thị Như T, Nguyễn Thị T và Huỳnh Tấn K chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến hành vi đánh bạc nên Công an xã S xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền.

Hành vi của bị cáo Chu Thị H đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến đời sống văn hóa ở khu dân cư, trật tự văn minh xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ sức khỏe để lao động chân chính tạo ra của cải vật chất làm giàu cho bản thân nhưng bị cáo không làm, mà vì hám lợi lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Động cơ phạm tội của bị cáo là nhằm mục đích thu lợi bất chính từ việc đánh bạc với hình thức bài binh 06 lá ăn thua bằng tiền. Hiện nay, tình trạng đánh bạc trái pháp luật vẫn còn diễn biến phức tạp trong cộng đồng dân cư, là một tệ nạn trong xã hội bị pháp luật ngăn cấm và hình thức lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền cũng là loại hình đánh bạc bị pháp luật cấm, xã hội lên án. Đánh bạc đuợc xem là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm hình sự khác, làm ảnh hưởng đến phong trào xây dựng nông thôn mới, xây dựng nông thôn mới nâng cao và xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu do Đảng và Nhà nước ta phát động. Do vậy, hành vi trên của bị cáo cần phải được xét xử nghiêm minh, tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra, nhằm mục đích răn đe, giáo dục đối với bị cáo và góp phần phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có chồng là người đã trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30/4/1975 đã phục viên, xuất ngũ; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự.

Bị cáo khó khăn về kinh tế, gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Do vậy, cần xem xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Xét lời đề nghị của vị Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là nặng, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không cần thiết xử phạt tù và hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xét lời bào chữa của Luật sư bào chữa cho bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo dùng vào đánh bạc và tiền thu tại chiếu bạc 350.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng và 05 bộ bài tây loại 52 lá chưa qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo H số tiền 1.100.000 đồng.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Chu Thị H.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 36; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chu Thị H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long nhận được quyết định thi hành án.

Giao người bị kết án Chu Thị H cho Ủy ban nhân dân xã S, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

1.3 Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Chu Thị H.

1.4 Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Chu Thị H.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo dùng vào đánh bạc và tiền thu tại chiếu bạc 350.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000534 ngày 26/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng và 05 bộ bài tây loại 52 lá chưa qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo H số tiền 1.100.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000534 ngày 26/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

Hiện vật chứng đang quản lý tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2, tỉnh Vĩnh Long theo biên bản giao nhận vật chứng vụ án, tài sản ngày 10/02/2026.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Chu Thị H.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ