- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn M - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2026/HS-ST Ngày 22/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hoàng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Oanh và bà Nguyễn Thị Kim Lý.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thái Quang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Tú – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lào Cai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Văn M – Tên gọi khác: Không; sinh ngày 17 tháng 9 năm 1984, tại tỉnh Lào Cai; Căn cước công dân số 015084011842, do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội – Bộ C2 cấp ngày 22/9/2024; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Â, tỉnh Lào Cai; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Ngô Xuân C (đã chết); con bà: Trần Thị A, sinh năm 1938; vợ: Đàm Minh T, sinh năm 1981 (đã ly hôn); bị cáo có 01 sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2008/HSST ngày 07/11/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt Ngô Văn M 01 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/7/2009; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2010/HSST ngày 28/10/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt Ngô Văn M 01 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt từ ngày 02/8/2011; Tại Bản án hình sự phúc thẩm 28/2013/HSPT ngày 17/6/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt Ngô Văn M 02 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/12/2014. (Các bản án đều đã được xóa án tích); Tại Quyết định số 09/QĐ-TA ngày 03/5/2019, Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc thời gian 02 (hai) năm đối với Ngô Văn M. Chấp hành xong quyết định ngày 07/5/2021.
Bị cáo bị bắt ngày 14/10/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh L. Có mặt.
Người chứng kiến: Ông Đào Văn T1, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ dân phố M, phường Y, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Văn M là đối tượng nghiện chất ma túy, khoảng 08 giờ 00 phút ngày 10/10/2025, Ngô Văn M thuê xe ôm từ cổng Bệnh viện Đ tỉnh Lào Cai (Cơ sở 2) thuộc tổ dân phố M, phường Y, tỉnh Lào Cai đi đến khu vực đầu cầu Y thuộc tổ dân phố H, phường Y, tỉnh Lào Cai với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến khu vực đầu cầu Y, M bảo người lái xe ôm đứng đợi rồi đi tìm và gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên là T2 (M không biết rõ đầy đủ tên, tuổi, địa chỉ). Tại đây M hỏi và mua của T2 01 gói ma túy loại Heroine với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được gói ma túy M đi bộ đến hiệu thuốc Thanh Phương ở gần cầu Y mua 01 xi lanh nhựa loại 3ml/cc, 01 lọ nước cất. M quay lại chỗ người lái xe ôm đứng đợi trước đó bảo chở M quay về Bệnh viện Đ tỉnh Lào Cai (cơ sở 2). Khi quay về đến nơi, M đi lên nhà vệ sinh tầng 4, Trung tâm Y học Cổ truyền – Phục hồi chức năng của bệnh viện hòa gói ma túy vừa mua được cùng nước cất vào xilanh nhựa để sử dụng, tuy nhiên lúc này có người đi vào nhà vệ sinh nên M cất xilanh có chứa ma túy đã pha sẵn vào túi bên phải chiếc áo bò đang mặc và đi ra ngoài hành lang tìm chỗ để sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an phường Â, tỉnh Lào Cai phối hợp với Công an phường Y, tỉnh Lào Cai kiểm tra. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt quả tang và thu giữ gồm: 01 xi lanh nhựa bên trong có chứa dung dịch nghi là ma túy; 01 chiếc áo bò màu ghi đen; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 Prime gắn 02 sim số 0868.444.396 và 0853.293.978; số tiền 252.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 7797/KL-KTHS, ngày 14/10/2025 của V Bộ C2 kết luận: Mẫu chất lỏng đựng trong xi lanh nhựa gửi giám định là dung dịch Heroine, thể tích mẫu 1,0 ml, khối lượng Heroine là 0,112 gam.
Bản cáo trạng số: 36/CT-VKS-KV1 ngày 08/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Ngô Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo: Ngô Văn M từ 03 đến 04 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong do V - Bộ C2 phát hành.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 Prime lắp 02 sim số 0868.444.396 và 0853.293.978; Số tiền 252.000 đồng; 01 áo khoác bò màu ghi đen đã qua sử dụng.
Bị cáo phải chịu án phí HSST và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn M thành khẩn khai báo. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Ngô Văn M tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 09 giờ 00 phút, ngày 10 tháng 10 năm 2025, tại tầng 4 Trung tâm Y học cổ truyền – Phục hồi chức năng Bệnh viện Đ tỉnh Lào Cai (Cơ sở 2) Ngô Văn M có hành vi tàng trữ 1,0 ml dung dịch ma túy loại Heroine được đựng trong 01 xi lanh nhựa, khối lượng Heroine trong mẫu là 0,112 gam với mục đích để sử dụng thì bị Công an phường Â, tỉnh Lào Cai phối hợp với Công an phường Y, tỉnh Lào Cai phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Lào Cai đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,112 gam ma túy, loại Heroine của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đã từng bị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc, nhận thức được tác hại của ma túy và hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân. Do đó, cần đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình tham gia tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có bố đẻ là ông Ngô Vi C1 và mẹ đẻ là bà Trần Thị A đều được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, là lao động tự do không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy Ngô Văn M khai mua của người đàn ông không tên là T2 tại khu vực đầu cầu Y thuộc tổ dân phố H, phường Y, tỉnh Lào Cai, quá trình điều tra M không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, do đó không đủ căn cứ để xử lý.
Đối với người lái xe ôm, Ngô Văn M không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người này và M không nói cho người này biết về việc thực hiện hành vi phạm tội nên không có cơ sở để xử lý.
Về vật chứng:
Đối với 1,0 ml chất lỏng đựng trong xi lanh nhựa gửi giám định là dung dịch ma túy loại Heroine, cơ quan giám định đã sử dụng giám định hết, không hoàn lại đối tượng giám định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 vỏ xi lanh nhựa và vỏ bao gói mẫu giám định được niêm phong trong 01 phong bì do V - Bộ C2 phát hành là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 Prime lắp 02 sim số 0868.444.396 và 0853.293.978; Số tiền 252.000 đồng, 01 áo khoác bò màu ghi đen đã qua sử dụng - là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn M 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 10 năm 2025.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ xi lanh nhựa và vỏ bao gói mẫu giám định được niêm phong trong 01 phong bì do V - Bộ C2 phát hành, mặt trước phong bì ghi “Số:7797/KL-KTHS”, mặt sau có chữ ký, họ tên của Quách Dương T3, Hoàng Thế T4 và 03 (ba) hình dấu tròn đỏ của V - Bộ C2 (Mẫu hoàn lại sau giám định).
- Trả lại cho bị cáo Ngô Văn M: 01 áo khoác bò màu ghi đen đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 Prime (đã qua sử dụng), lắp 02 sim số 0868.444.396 và 0853.293.978 ; Số tiền 252.000 đồng (Hai trăm năm mươi hai nghìn đồng).
(Đặc điểm các vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh Lào Cai).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Ngô Văn M phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND khu vực 1, tỉnh Lào Cai;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lào Cai;
- Phòng HSNV Công an tỉnh Lào Cai;
- Phòng THADS khu vực 1, tỉnh Lào Cai;
- Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Lào Cai;
- Bị cáo (TG);
- Lưu hồ sơ; THAHS; TA.
Lê Thị Hoàng Hải THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 1, tỉnh Lào Cai; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lào Cai; - Phòng HSNV Công an tỉnh Lào Cai; - Phòng THADS khu vực 1, tỉnh Lào Cai; - Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Lào Cai; - Bị cáo (TG); - Lưu hồ sơ; THAHS; TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hoàng Hải |