vanban.org

Bản án 26/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H.

Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị H ly hôn với anh Nguyễn Văn H1. Việc nuôi con: Giao con chung là Nguyễn Quỳnh C, sinh ngày 16 tháng 08 năm 2017 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H1 do chị H… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "yêu cầu ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:26/2026/HNGĐ - ST
Ngày: 16/03/2026
V/v: “Ly hôn, giải quyết việc nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quốc Tú

2. Ông Võ Quang Hòa

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thùy Trang - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 03 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 199/2025/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2025 về “Ly hôn, giải quyết việc nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2026/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H - sinh năm 1992

Địa chỉ: xóm H, phường T, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H1 - sinh năm 1988

Địa chỉ: xóm H, phường T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn và trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn H1 có đăng ký kết hôn vào ngày 23 tháng 12 năm 2011 tại UBND xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An (nay là xã Đ, tỉnh Nghệ An). Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Chị H nhận thấy cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng đã không còn nên chị đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn H1.

Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn H1 có một con chung là Nguyễn Quỳnh C, sinh ngày 16 tháng 08 năm 2017. Chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn H1:

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh H1 biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh H1 nhưng anh H1 vẫn không có mặt để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành tống đạt các tài liệu, chứng cứ cho anh H1 theo đúng quy định tại điều 177, 179 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật

- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H là cho ly hôn với anh Nguyễn Văn H1; Việc nuôi con: đề nghị hội đồng xét xử giao con chung là Nguyễn Quỳnh C, sinh ngày 16 tháng 08 năm 2017 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành; Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Phạm Thị H có nơi cư trú tại xóm H, phường T, tỉnh Nghệ An yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn H1 là bị đơn có nơi cư trú tại xóm H, phường T, tỉnh Nghệ An do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Về việc xét xử vắng mặt của các đương sự:

Đối với nguyên đơn chị Phạm Thị H, quá trình giải quyết vụ án chị H có mặt đầy đủ theo yêu cầu của Tòa án. Tại các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chị H đều có mặt, đã trình bày ý kiến và yêu cầu của mình. Tuy nhiên đến ngày xét xử vụ án do bận công việc nên chị H không sắp xếp được thời gian về tham dự phiên tòa, do đó chị H đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn H1 có hộ khẩu thường trú tại xóm H, phường T, tỉnh Nghệ An quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh H1 biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh H1, chính quyền địa phương, ban cán sự xóm đã phối hợp với gia đình báo cho anh H1 biết thời gian, địa điểm đến Toà án để giải quyết vụ án nhưng anh H1 không đến và không có ý kiến gì. Tòa án đã tiến hành tống đạt các tài liệu, chứng cứ cho anh H1 theo đúng quy định tại điều 177, 179 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn H1 có đăng ký kết hôn vào ngày 23 tháng 12 năm 2011 tại UBND xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An (nay là xã Đ, tỉnh Nghệ An). Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay chị H không còn tình cảm và không quan tâm đến anh H1 nữa. Xét thấy tình cảm giữa chị H và anh H1 không còn, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị H.

2.2. Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn H1 có một con chung là Nguyễn Quỳnh C, sinh ngày 16 tháng 08 năm 2017. Quá trình ly thân chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, con chung có đơn trình nguyện vọng muốn được ở với chị H. Hội đồng xét xử thấy rằng để đảm bảo quyền lợi cho con chung nên giao con chung là Nguyễn Quỳnh C cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành là phù hợp.

2.3. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H1 do chị H không yêu cầu.

2.4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

. Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39; điểm a, b khoản 2 điều 227, điểm a, b khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 58; điều 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H.

1.Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị H ly hôn với anh Nguyễn Văn H1.

2.Việc nuôi con: Giao con chung là Nguyễn Quỳnh C, sinh ngày 16 tháng 08 năm 2017 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H1 do chị H không yêu cầu.

Anh H1 có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp tại biên lai thu tiền số 0004078 ngày 30 tháng 12 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

4. Nguyên đơn chị Phạm Thị H và bị đơn anh Nguyễn Văn H1 có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ