vanban.org

Bản án 26/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố không công nhận bà Lê Thị Đ và ông Trần Văn N là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Các con đã trưởng thành không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Đ không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "không công nhận vợ chồng Lê Thị Đ - Trần Văn N"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố không công nhận bà Lê Thị Đ và ông Trần Văn N là quan hệ vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 29-01-2026
V/v yêu cầu không công nhận vợ
chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Hoàng Hiệp

Ông Ngô Văn Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 228/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2025 về yêu cầu “Không công nhận vợ chồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 303/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Đ, sinh ngày 08/9/1978 (có mặt).

CCCD số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 08/12/2021.

Địa chỉ: Khu V, phường M, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Trần Văn N, sinh ngày 09/10/1972 (vắng mặt).

CCCD số: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Khu V, phường M, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ngày 27/10/2025, nguyên đơn bà Lê Thị Đ trình bày:

Năm 1996 bà Đ và ông N chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thời gian đầu bình thường, nhưng dần dần vợ chồng cự cãi với nhau và bất đồng quan điểm nhau trong cuộc sống, hiện nay vẫn ở chung nhà nhưng thường xuyên đi làm xa, khoảng 06 tháng mới về nhà một lần. Nay bà Đ yêu cầu Tòa án không công nhận giữa bà và ông N là vợ chồng. Về con chung: Thời gian chung sống có 02 con chung tên Trần Thị C, sinh năm 1996 và Trần Thị Ngọc H, sinh năm 2002 hiện các con đã trưởng thành và có gia đình riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Trần Văn N vắng mặt không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Đ yêu cầu không công nhận vợ chồng do không có đăng ký kết hôn. Quan hệ tranh chấp nêu trên được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 14, Điều 15 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với ông Trần Văn N được Tòa án triệu hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông N.

Về quan hệ hôn nhân: Theo lời bà Đ trình bày, bà và ông N tự nguyện chung sống từ năm 1996 nhưng không có đăng ký kết hôn. Tại Đơn xác nhận ngày 18/11/2025 Ủy ban nhân dân phường M, thành phố Cần Thơ xác nhận bà Lê Thị Đ và ông Trần Văn N chưa đăng ký kết hôn là đúng sự thật. Xét thấy, bà Đ và ông N tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996 nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn, chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 9, Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Tại đơn khởi kiện, bà Đ yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận giữa bà và ông N là vợ chồng. Căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Trong trường hợp không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này…” và tại khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao - Viên Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp quy định “Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con, quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình”. Căn cứ các quy định trên Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận bà Đ và ông N là vợ chồng.

Về con chung: Đều trưởng thành nên Tòa án không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ trình bày tài sản và nợ chung không có và không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đ phải chịu án phí 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố không công nhận bà Lê Thị Đ và ông Trần Văn N là quan hệ vợ chồng.

2. Về con chung: Các con đã trưởng thành không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Đ không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0011297 ngày 03/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà Đ đã nộp đủ án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ