vanban.org

Bản án 26/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 16/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Võ Tấn T phạm tội Giao cấu với trẻ em - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dư…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HSST
Ngày: 16 - 01- 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thái Ánh Trinh (Giáo viên hưu trí)

2. Ông Tăng Tài Thủ (Cán bộ hưu trí)

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như –Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 53/2025/HSST ngày 26 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2026/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Tấn T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày 06/6/1991; Nơi sinh: Cần Thơ; Nơi cư trú: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (nay là Khu vực Đ, phường T, thành phố Cần Thơ); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ học vấn: 10/12; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; H và tên cha: Võ Thanh T1, sinh năm 1967 (sống); Họ và tên mẹ: Bùi Thị Thiên H1, sinh năm 1971 (sống); Anh chị em ruột: có 02 người, sinh năm 1989 và 1994; Vợ: Phạm Thị Huệ T2, sinh năm 1993; Con: có 02 người, sinh năm 2015 và 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại Khu V Đ, phường T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

Bị hại: Nguyễn Ngọc Huỳnh A – sinh ngày 23/3/2011. Vắng mặt

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Thúy P – sinh năm 1991 (mẹ của bị hại). Cùng cư trú: Khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:

Bà Lê Thị T3 – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố C. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Ạ – sinh năm 1977

Cư trú: Khu vực P, phường T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

Bà Danh Thị Mộng T4 – sinh năm 1991

Cư trú: Ấp V, xã V, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua mạng xã hội Litmatch Võ Tấn T quen biết với Nguyễn Ngọc Huỳnh A - sinh ngày 23/3/2011 từ khoảng tháng 10/2024. Hai bên nhắn tin qua lại trên mạng xã hội Zalo qua tài khoản cá nhân. Quá trình nhắn tin với nhau, cả hai có những lời nói yêu thương và có gọi “video call” với nhau khoảng 03 lần, trong những lần đó Huỳnh A tự cởi quần áo ra để T xem. Đến ngày 21/01/2025, T và Huỳnh A hẹn nhau đi nhà nghỉ.

Khoảng 11 giờ trưa ngày 21/01/2025, T điều khiển xe mô tô biển số 64B2-074.20 đến trước cổng trường THCS V để rước Huỳnh A. Lúc này Huỳnh A từ nhà chạy xe đạp ra, gửi xe đạp trong trường học và ra trước cổng trường lên xe để T chở đến nhà nghỉ T5 thuộc khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ. Khi vào phòng số 4 của nhà nghỉ, T nói với Huỳnh A là “anh yêu em” sau đó cả hai nằm xuống, T ôm và hôn môi của Huỳnh A, T cởi áo khoát của Huỳnh A ra, tiếp theo cả hai tự cởi quần áo ra. Sau đó, Thành hôn môi, mặt và ngực của Huỳnh A khoảng 02 - 03 phút; T dùng ngón tay giữa của tay phải đút vào âm đạo của Huỳnh A khoảng 10 giây cho Huỳnh A thoả mãn sinh lý để dễ dàng thực hiện quan hệ tình dục. Huỳnh A dùng tay cầm, dùng miệng hôn và ngậm dương vật của T khoảng 02 - 03 phút. Tiếp theo, T đeo bao cao cu vào dương vật của mình và đưa dương vật vào âm đạo của Huỳnh A để quan hệ tình dục khoảng 02 – 03 phút thì xuất tinh. Sau đó, cả hai nằm nghỉ khoảng 15 phút thì tự mặc quần áo vào và nói chuyện với nhau đến khoảng 12 giờ trưa thì trả phòng đi về. T chở Huỳnh A về trường và có đưa cho Huỳnh A 50.000 đồng để đi học, sau đó T chạy xe về nhà.

Đến ngày 21/4/2025, bà Nguyễn Thị Thúy P (mẹ của Huỳnh A) hay biết sự việc nên chở Huỳnh A đến Công an phường T trình báo.

Quá trình điều tra, T và Huỳnh A khai rằng khi quan hệ tình dục thì Huỳnh A hoàn toàn tự nguyện, do thấy Huỳnh A không có tiền nên T cho 50.000 đồng đi học chứ không có hứa hẹn cho lợi ích vật chất gì khác; T chỉ quan hệ tình dục với Huỳnh A 01 lần tại nhà nghỉ T5 vào ngày 21/01/2025 vì sau lần quan hệ tình dục đó thì Huỳnh A có nói cho T biết là Huỳnh A chưa đủ 16 tuổi, T sợ nên không dám quan hệ tình dục với Huỳnh A nữa.

Theo Giấy chứng sinh của Bệnh viện Đ và Giấy khai sinh Nguyễn Ngọc Huỳnh A sinh ngày 23/3/2011 (đăng ký khai sinh ngày 05/4/2011 đúng hạn). Tính đến ngày quan hệ tình dục với T thì Huỳnh A được 13 tuổi 09 tháng 28 ngày.

Tại kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 11/KLTDTE-TTPYCT ngày 30/5/2025 của Trung tâm P, kết luận: Hiện tại toàn thân của Nguyễn Ngọc Huỳnh A không vết trầy xước, không vết bầm tím. Âm hộ và tầng sinh môn không vết trầy xước, không vết bầm tím. Màng trinh dãn, có 02 vết rách cũ vị trí 04 giờ và 08 giờ.

Đối với những đoạn video clip nhạy cảm của Nguyễn Ngọc Huỳnh A bị phát tán trên mạng xã hội, trong quá trình điều tra xác định các đoạn tin nhắn giữa T và Huỳnh A đã bị xoá đồng thời T không lưu lại và không thừa nhận phát tán những đoạn video clip đó, Huỳnh A cũng không biết ai phát tán. Do đó, Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Phía bị hại không có yêu cầu bồi thường nhưng Võ Tấn T đã tự nguyện bồi thường tổn thất tinh thần, danh dự cho Nguyễn Ngọc Huỳnh A với số tiền 3.000.000 đồng. Phía bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho T.

* Tại Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 24 tháng 12 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ, truy tố Võ Tấn T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Phía bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng: khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Võ Tấn T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

- Về trách nhiệm dân sự:

Công nhận bị cáo Võ Tấn T đã tự nguyện bồi thường tổn thất tinh thần, danh dự cho bị hại Nguyễn Ngọc Huỳnh A với số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại ý kiến tranh luận:

Thống nhất với tội danh, hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị, và theo ý kiến của phía bị hại là xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để ở nhà lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Trong điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên toà.

Như vậy, có cơ sở xác định vào lúc khoảng hơn 11 giờ ngày 21/01/2025, bị cáo Võ Tấn T đã có hành vi quan hệ tình dục (giao cấu) với bị hại Nguyễn Ngọc Huỳnh N – sinh ngày 23/3/2011 tại nhà nghỉ T5 thuộc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (nay là khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ). Trong khi quan hệ tình dục thì Huỳnh A hoàn toàn tự nguyện, sau đó thấy Huỳnh A không có tiền nên T cho 50.000 đồng đi học chứ không có hứa hẹn cho lợi ích vật chất gì khác. Hành vi bị cáo đã xâm phạm đến tính sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do đó việc truy tố, xét xử bị cáo Võ Tấn T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, là đúng người, đúng tội.

Xét thấy, hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm đối với xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức để điều khiển hành vi xử sự của mình cho phù hợp pháp luật và đạo đức xã hội. Trong thời đại công nghệ phát triển, các mạng xã hội tràn lan, con người dễ bị cám dỗ, lôi cuốn theo những thói hư tật xấu dẫn đến nhiều hệ lụy cho xã hội. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được vấn đề này trong khi bị hại chưa đầy đủ nhận thức. Tuy nhiên, do ham muốn hưởng thụ cá nhân mà bị cáo đã quen biết, giao lưu, thực hiện hành vi tình dục với bị hại là trẻ em, bất chấp pháp luật và đạo đức xã hội ngăn cấm. Hành vi đó đáng bị phê phán và xử phạt nghiêm minh, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả được phía bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có con còn nhỏ tuổi cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của cha mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử có xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[4] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Xét sự tự nguyện bồi thường của bị cáo không trái luật và đạo đức xã hội, được phía bị hại đồng ý; nên công nhận. [6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Võ Tấn T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng: khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Võ Tấn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Công nhận bị cáo Võ Tấn T đã tự nguyện bồi thường tổn thất tinh thần, danh dự cho bị hại Nguyễn Ngọc Huỳnh A với số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) xong. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Bị cáo Võ Tấn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ