- Tranh chấp gì? án hình sự — "Gìang Thị M - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Lý Hữu C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày 10-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Khiêm.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Kim Loan và ông Vũ Đức Minh.
- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Nguyễn Thảo Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Ứng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025 và Thông báo thay đổi lịch phiên tòa số 31/TB-TA, ngày 02 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
1. Giàng Thị M, sinh năm 1965, tại tỉnh Điện Biên; Nơi đăng ký thường trú: Bản N, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 0/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Mông; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A L và bà Sùng Thị M1 (Đều đã chết); bị cáo có chồng Sùng A C, sinh năm: 1964 và 08 con, con lớn nhất sinh năm 1982, con nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 11/01/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức tuyên phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, ngày 01/6/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) thì bị cáo chưa được xóa án tích.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2024 đến nay - Có mặt.
2. Lý Hữu C, sinh năm 1994, tại tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã N, huyện S, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 3/12; giới tính: Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn Đ và bà Bàn Thị T; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 13/6/2024, bị Công an huyện Tuy Đức xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, Sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo chưa nộp phạt.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2024 đến nay - Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Giàng Thị M:
- Bà Bùi Thị H – Là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Nông; địa chỉ: Số 01 C, phường N, tp. G, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Vi Thị A – Là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Nông; địa chỉ: Số 01 C, phường N, tp. G, tỉnh Đăk Nông – Có mặt.
Người phiện dịch cho bị cáo Giàng Thị M:
- Ông Và Bá S; Địa chỉ: Bon B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
- Ông Lầu Bá L; Địa chỉ: Thôn 5, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
Người làm chứng: Anh Pán Văn Đ; Địa chỉ: Bản N, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lý Hữu C là người nghiện ma túy nên thường sống lang thang và ngủ lại chòi rẫy trong vườn điều của người dân gần bờ đập bản N, xã Đ, huyện T để tìm mua ma tuý sử dụng.
Khoảng 21 giờ ngày 27/12/2024, do có nhu cầu mua ma túy để sử dụng và biết Giàng Thị M có ma túy nên Ch đi bộ từ bờ đập bản N đến nhà M thuộc bản N, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông, hỏi mua ma túy. Khi đến nơi, C thấy cửa đóng, nhưng trong nhà vẫn sáng điện nên C nhìn qua khe cửa gọi M bán ma tuý cho mình với số tiền 300.000 đồng. Lúc này, M ở trong nhà đi ra quan sát qua khe cửa và nhận số tiền 300.000 đồng của C. Sau đó, M lấy từ trong túi da màu đen đeo trước bụng 03 gói ma túy đưa qua khe cửa cho C. C nhận 03 gói ma túy rồi đứng sát bên hông nhà M lấy túi nilon màu hồng (chuẩn bị từ trước) trong túi quần ra xé lấy một miếng để bọc 03 gói ma túy lại rồi dùng quẹt ga màu vàng hàn. Khi C đang bọc thêm lớp nilon màu hồng thứ hai thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức bắt quả tang. Thu giữ của Lý Hữu C gồm: 02 gói nilon màu xanh và 01 gói nilon màu vàng (03 gói nilon này đựng trong 02 gói nilon màu hồng) được hàn kín, bên trong mỗi gói nilon đều chứa chất rắn dạng bột màu trắng; 01 bật lửa màu vàng; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 02 mảnh túi nilon màu hồng. Thu giữ của Giàng Thị M gồm: số tiền 300.000 đồng; 01 túi da màu đen.
Mở rộng điều tra, Giàng Thị M khai nhận đầu tháng 11 năm 2024, Mảy mua số ma túy trên của một người đàn ông dân tộc Kinh (chưa xác định nhân thân, lai lịch) tại bờ đập bản N với số tiền 100.000 đồng nhằm mục đích sử dụng và bán lại kiếm lời.
Tại kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Giàng Thị M, Lý Hữu C ngày 02/01/2025, xác định: M và C có nghiện ma túy dạng Heroine.
Tại Kết luận giám định số 03/KL-KTHS ngày 03/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 02 (hai) gói nilon màu xanh và 01 (một) gói nilon màu vàng (03 gói nilon này đựng trong 02 gói nilon màu hồng) được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng mẫu lần lượt là 0,1108 gam, 0,1269 gam, 0,1297 gam.
Quá trình điều tra Giàng Thị M khai nhận năm sinh 1965, có bố là ông Giàng A L đối chiếu thông tin với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2017/HSST ngày 11/01/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức thì Giàng Thị M sinh năm 1964, có bố là ông Giàng A L. Do có sự sai khác nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã thu thập Danh, chỉ bản lập ngày 25/7/2016 (ký hiệu A) và Danh, chỉ bản lập ngày 03/01/2025 (ký hiệu M) tiến hành giám định dấu vân tay. Tại Kết luận giám định số 88/KL-KTHS ngày 05/3/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Dấu vân tay in trên Danh bản, chỉ bản cần giám định (ký hiệu A) so với dấu vân tay in trên Danh bản, chỉ bản mẫu so sánh (ký hiệu M) là dấu vân tay của cùng một người in ra.
Tại Cáo trạng số 27/CT-VKS-TĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức đã truy tố bị cáo Giàng Thị M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Lý Hữu C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng và thừa nhận Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Giàng Thị M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Lý Hữu C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.
Kết quả tranh luận tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Sau khi xem xét các chứng cứ buộc tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Tuyên bố bị cáo Lý Hữu C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giàng Thị M từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2024.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý Hữu C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2024.
Đề nghị miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Thị M. Không đề nghị hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị.
Tịch thu tiêu hủy 01 túi da màu đen, 01 bật lửa màu vàng, 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, 02 mảnh nilon màu hồng, 0,3062gam Heroin (hoàn lại sau giám định) và Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng, do liên quan đến hành vi phạm tội.
Quan điểm của người bào chữa: Người bào chữa thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Mảy đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái nền đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị và áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí cho bị cáo Giàng Thị M.
Tại phiên toà các bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã công bố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 21 giờ ngày 27/12/2024 tại nhà của Giàng Thị M thuộc bản N, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông, Giàng Thị M đã có hành vi bán cho Lý Hữu C 02 gói nilon màu xanh và 01 gói nilon màu vàng (03 gói nilon này đựng trong 02 gói nilon màu hồng) có khối lượng mẫu lần lượt là 0,1108 gam, 0,1269 gam, 0,1297 gam, là Heroine, với số tiền 300.000 đồng. Sau đó, C sử dụng mảnh nilon màu hồng để gói lại mang về, mục đích để sử dụng, khi đang gói lần hai thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức phát hiện bắt quả tang. Theo Kết luận giám định số 03/KL-KTHS ngày 03/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 02 (hai) gói nilon màu xanh và 01 (một) gói nilon màu vàng (03 gói nilon này đựng trong 02 gói nilon màu hồng) được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng mẫu lần lượt là 0,1108 gam, 0,1269 gam, 0,1297 gam. Như vậy hành vi của bị cáo Giàng Thị M đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Lý Hữu C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự
Tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
…”
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c, Heroine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Giàng Thị M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Lý Hữu C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Các bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển được mọi hành vi của bản thân trong cuộc sống, các bị cáo phải biết viê ̣c mua bán trái phép chất ma tuý, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện. Do vậy, cần xử pha ̣t các bi ̣ cáo mứ c án nghiêm, tương xứ ng vớ i tính chất, mứ c đô ̣ hành vi của các bi ̣ cáo đa gây ra. Đỗ
̀ng thờ i, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới bảo đảm được mục đích của hình phạt.
. Về tình tiết tăng nặng: Ngày 01/6/2022 bị cáo Giàng Thị M chấp hành xong hình phạt 08 năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/2017/HSST ngày 11/01/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, đến ngày 27/12/2024 tiếp tục thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 thì bị cáo chưa được xóa án tích, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; Riêng bị cáo Giàng Thị M người dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên cần áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
. Việc xử lý vật chứng: Đối với 01 túi da màu đen, 01 bật lửa màu vàng, 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, 02 mảnh nilon màu hồng không có giá trị sử dụng cần tích thu tiêu hủy; Đối với 0,3062gam Heroin (hoàn lại sau giám định) là chất cấm cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 300.000 đồng là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là người dân tộc thiểu số có điều kiện kinh tế khó khăn nên HĐXX xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
. Đối với người đàn ông (không xác định nhân thân lai lịch) đã bán ma túy cho Giàng Thị M, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức tách ra tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
. Về án phí: Bị cáo Giàng Thị M là người dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên cần áp dụng đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí cho bị cáo Giàng Thị M; Bị cáo Lý Hữu C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Giàng Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Lý Hữu C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng Thị M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 28/12/2024).
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý Hữu C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 28/12/2024).
2. Việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 túi da màu đen; 01bật lửa màu vàng; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 02 mảnh nilon màu hồng; 0,3062gam Heroin (hoàn lại sau giám định); Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 300.000đồng
3. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lý hữu C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm; Miễm án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Thị M.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Phòng PV 06; PC 10 Công an tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Tuy Đức; - Chi cục THADS huyện Tuy Đức; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký, đóng dấu) Nguyễn Văn Khiêm |