- Tranh chấp gì? án hình sự — "Y K T Kbuôr Lưu phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điề…"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Bị cáo Y K T Kbuôr Lưu phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26 /2025/HS - ST Ngày: 25 - 11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Trọng Nghĩa
2. Bà Cao Thị Hồng Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Thảo – Kiểm sát viên
Ngày 21 và 25 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2025/TLST - HS ngày 22 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Y K T Kbuôr Lưu
Sinh ngày 28 tháng 9 năm 2002, tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Buôn E, xã B, tỉnh Đắk Lắk
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Ê đê; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông Lưu Quốc K (không xác định được năm sinh, nơi cư trú) và con bà Con bà: H R Kbuôr, sinh năm: 1970.
Bị cáo đang tại ngoại Buôn E, xã B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:Ông Lê Duy D, sinh năm 1969 (đã chết)
Đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị T, sinh năm 1971 (là vợ bị hại)
(có đơn xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã S, tỉnh Đắk Lắk
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Duy T1, sinh năm 1993 và bà Lê Thị T2, sinh năm 1997. Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị T, sinh năm 1971. (có đơn xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã S, tỉnh Đắk Lắk
Người làm chứng: Ông Lê Văn H, sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã S, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 6 giờ ngày 01/5/2025, ông Lê Duy D điều khiển xe mô tô biển số 47H1-299.96 tham gia giao thông lưu thông trên đường liên xã đi theo hướng từ xã Quảng Phú đến xã Ea Mdroh. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn Hiệp Đạt, xã Ea M’droh, ông D bật đèn xi nhan, đưa tay ra tín hiệu chuyển hướng rồi từ từ điều khiển xe mô tô rẽ trái vào hướng cổng nhà ông Lê Văn Đào thuộc thôn Bình Hòa, xã Ea M’droh. Khi xe mô tô ông D điều khiển đã sang phần đường bên trái chiều đi được 0,75m thì cùng lúc này, anh Y K T Kbuôr Lưu điều khiển xe mô tô biển số 47S1-232.28 lưu thông cùng chiều phía sau đi tới. Do không giữ khoảng cách an toàn, không kịp thời giảm tốc độ, Y K T Kbuôr Lưu điều khiển xe sang bên trái chiều đi thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 47H1-299.96. Hậu quả cả hai xe mô tô ngã xuống đường, ông Lê Duy D bị T tích được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Thiện Hạnh, Y K T Kbuôr Lưu bị thương nhẹ, hai phương tiện giao thông bị hư hỏng. Đến khoảng 12 giờ 45 phút ngày 06/5/2025, ông Lê Duy D tử vong.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số 754/KLGĐTT-KTHS ngày 17/7/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Lê Duy D: Suy đa cơ quan trên cơ thể có chấn thương sọ não nặng đã được phẫu thuật và có tình trạng nhiễm trùng.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 40/KLTTCT-PY01 ngày 29/7/2025 của Trung tâm pháp y Sở y tế Đắk Lắk kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Y K T Kbuôr Lưu tại thời điểm giám định là 12%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Trên cơ sở khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, lời khai của người làm chứng, người liên quan, kết quả xác định như sau: Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là tại đường liên xã thuộc địa phận thôn Hiệp Đạt, xã Ea Mdroh, tỉnh Đắk Lắk; đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường thẳng, tầm nhìn thông thoáng, không bị che khuất. Mặt đường bê tông rộng 5,50m, có hệ thống biển báo hiệu giao thông. Tổ chức giao thông là đường hai chiều, đoạn đường không có vạch kẻ đường, hai bên dân cư sống đông đúc, lưu lượng phương tiện tham gia giao thông qua lại bình thường. Chọn trụ điện số 311 làm điểm mốc cố định, lấy mép đường bên trái theo hướng đi từ xã Quảng Phú đi xã Ea Mdroh làm mép đường chuẩn. Xác định vùng va chạm và vị trí va chạm đầu tiên của hai phương tiện chiếu theo phương thẳng đứng vuông góc tương ứng trên mặt đường tại hiện trường vụ tai nạn giao thông cách mốc cố định là 11,70m; cách mép đường chuẩn là 2m, cách tâm đường là 0,75m. Vị trí va chạm nằm ở phần đường bên trái hướng đi từ xã Quảng Phú đi xã Ea Mdroh.
Tại Bản kết luận giám định số 864/KL-KTHS ngày 03/6/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Tập tin video (Kí hiệu: A): Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh; Trích xuất được hình ảnh mô tả diễn biến, hành vi trong tập tin video vào bản ảnh giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 926/KL-KTHS ngày 10/6/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận:
- Xe mô tô (kí hiệu A1) có: số khung, số máy không thay đổi.
- Xe mô tô (kí hiệu: A2) có: số khung, số máy không thay đổi.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 31/KL-HĐ ĐGTS ngày 14/6/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Cư M’gar kết luận: Giá trị thiệt hại của tài sản là xe mô tô biển số 47H1 – 299.96, nhãn hiệu: HONDA, loại xe: WAVE RSX, màu sơn: đỏ-đen, số máy: JA32E1066456, có số khung: RLHJA3201EY031282 là 620.000 đồng; Giá trị thiệt hại của tài sản là xe mô tô biển số 47S1-232.28, nhãn hiệu: HONDA, loại xe: FUTURE-F1, màu sơn: xanh-đen, số máy: JC90E0044577, số khung: RLHJC76648LY012000 là 1.750.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 835/KL-KTHS ngày 17/6/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: 1/ Dấu vết trược xước, cong kim loại ở bàn để chân trước bên trái của xe mô tô mang biển số 47H1 – 299.96 có chiều hướng từ sau ra trước phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su) ở mặt ngoài giảm xóc trước (phuộc nhún) bên phải của xe mô tô mang biển số 47S – 232.28. Dấu vết va chạm ở xe mô tô mang biển số 47S – 232.28 tại vị trí có chiều hướng từ trước ra sau; 2/ Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài đầu bàn để chân sau bên trái của xe mô tô mang biển số 47H1 – 299.96 có chiều hướng từ sau ra trước phù hợp với dấu vết thủng, gãy vỡ nhựa ở mặt ngoài phía dưới yếm chắn gió bên phải của xe mô tô mang biển số 47S – 232.28 tại vị trí này có chiều hướng từ trước ra sau; 3/ Không đủ cơ sở xác định vị trí va chạm ở xe mô tô mang biển số 47H1 – 299.96 và xe mô tô mang biển số 47S – 232.2.
Tại bản cáo trạng số: 03/ CT-VKS ngày 21 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Y K T Kbuôr Lưu về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Y K T Kbuôr Lưu phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng khoản điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị Y K T Kbuôr Lưu từ 01 năm năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo bồi thường gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng. Đối với phần thiệt hại, hư hỏng của phương tiện giao thông thì mỗi bên tự sửa chữa phương tiện của mình.
Về xử lý vật chứng: Chấp nhận cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển số: 47H1 – 299.96 cho bà Trần Thị T (vợ của ông Lê Duy D); trả lại xe mô tô biển số: 47S1 – 232.28 cho chủ sở hữu hợp pháp Y K T Kbuôr Lưu.
Bị cáo không ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi của mình đã thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 06 giờ ngày 01/5/2025, Y K T Kbuôr Lưu (đã có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô biển số 47S1-232.28 tham gia giao thông lưu thông theo hướng từ trung tâm xã Quảng Phú về xã Ea Mdroh. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn Hiệp Đạt, xã EaMroh, tỉnh Đắk Lắk, do không giữ khoảng cách an toàn, không kịp thời giảm tốc độ và không đi về phía bên phải chiều đi nên xe mô tô Y K T Kbuôr Lưu điều khiển đã tông vào xe mô tô biển số 47H1 – 299.96 do ông Lê Duy D điều khiển cùng chiều phía trước khi xe ông D đang rẽ trái qua đường. Hậu quả ông Lê Duy D tử vong, Y K T bị thương. Hai phương tiện giao thông bị hư hỏng với tổng giá trị thiệt hại là 2.370.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Y K T Kbuôr Lưu đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người”
. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Y K T Kbuôr Lưu là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận Y K T Kbuôr Lưu có hành vi điều khiển xe không làm chủ tốc độ và khoảng cách giữa các phương tiện giao thông nên đã va chạm với xe mô tô do ông Lê Duy D điều khiển gây tai nạn.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm điểm h khoản 3 Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024. Đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
Do vậy, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo, phòng ngừa chung trong xã hội.
. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:
Xét về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu tiên phạm tội, bị cáo là người dân tộc thiểu số. Bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ công an nhân dân. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo và gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng, đại diện cho bị hại có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Với tính chất mức độ hành vi phạm tội và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội dưới sự theo dõi, giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ mức răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội là phù hợp.
. Về vật chứng: Ngày 21/8/2025 và ngày 22/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã trả lại xe mô tô biển số: 47H1 – 299.96 cho bà Trần Thị T (vợ của ông Lê Duy D); trả lại xe mô tô biển số: 47S1 – 232.28 cho bị cáo Y K T Kbuôr Lưu là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 200.000.000 đồng. Xét thấy sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường là tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận trên.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố: Bị cáo Y K T Kbuôr Lưu phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Y K T Kbuôr Lưu 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Y K T Kbuôr Lưu cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đắk lắk kết hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2]. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 2015; khoản 1 Điều 584, Điều 586, Điều 591 Bộ luật dân sự 2015
Về vật chứng: Chấp nhận Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Y K T Kbuôr Lưu 01 xe ô tô biển 47S1-232.28 là chủ sở hữu; Trả trả lại xe mô tô biển số: 47H1 – 299.96 cho bà Trần Thị T.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đã bồi thường số tiền 200.000.000 đồng cho gia đình ông Lê Duy D.
[3].Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Y K T Kbuôr Lưu phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐắkLắk ; - VKSND tỉnh ĐắkLắk ; - VKS khu vực 3 – Đắk Lắk ; - Phòng THADS khu vực 3 - Đắk Lắk; - T.H.A Hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ - CA.T.Đắk Lắk ; - Bị cáo, đại diện bị hại, người liên quan; - Lưu hồ sơ; lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Huyền Diệu |