vanban.org

Bản án 26/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thành T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Về hình phạt: Áp dụng Điều 38; Điều 50; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Đỗ Thành T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành bản án. Về phần dân sự: Bị cá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi pạm quy địn về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thành T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH LONG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HS-ST
Ngày: 20/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Đức

Ông Lê Đức Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quý - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Phạm Trần Hoàn – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2025/TLST-HS ngày 24/3/2025, đối với bị cáo:

Đỗ Thành T, sinh năm 2003, địa chỉ thường trú: Tổ 6, ấp HL B, xã TH, huyện HQ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Đỉnh và bà Ngô Thị Bích T1, bị cáo chưa có vợ, chưa có con; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa

Người bị hại: Bà Hoàng Thị K, sinh năm 1952 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bà K: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1970, địa chỉ: Tổ 3, khu phố PS, phường AL, thị xã BL, tỉnh Bình Phước. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị Bích T1, sinh năm 1982, địa chỉ: Tổ 6, ấp HL B, xã TH, huyện HQ, tỉnh Bình Phước. (có mặt)

Người làm chứng: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1981, địa chỉ: Tổ 3, khu phố PH, phường PT, thị xã BL, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 30 phút giờ ngày 22/6/2024, Đỗ Thành T, không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, dung tích xilanh 110,3cm2, biển số 93P2-618.12, chở 01 sọt nhựa màu đỏ, kích thước 60cm x 41cm x 20cm, bên trong chứa khoảng 50 kg thịt bò chạy trên đường Trần Hưng Đạo theo hướng từ xã Tân Lợi, huyện Hớn Quản đi trung tâm thị xã Bình Long, với vận tốc khoảng 85-94 km/giờ. Khi đi đến đoạn đường thuộc tổ 03, khu phố Phú Hòa, phường Phú Thịnh, thị xã Bình Long, T nhìn thấy phía trước cách khoảng 30m có bà Hoàng Thị K (bị khuyết tật về thần kinh, tâm thần, thường xuyên đi lang thang) đi bộ chậm từ lề trái qua lề phải đường theo hướng xe mô tô T đang chạy nhưng T không giảm tốc độ nên xe mô tô do T điều khiển tông trúng bà K gây tai nạn giao thông. Bà K được vợ chồng chị Nguyễn Thị Hiền, anh Nguyễn Đức Ninh ở gần đó đưa vào Bệnh viện đa khoa cao su Bình Long cấp cứu và chết trên đường chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước. Đỗ Thành T bị thương tích nhẹ, người bị nạn đã được đưa đi cấp cứu nên T tiếp tục điều khiển xe đi giao thịt bò ở khu vực chợ Bình Long rồi quay lại hiện trường.

Nhận được nguồn tin Cơ quan Cảnh sát điều tra phối hợp Cảnh sát giao thông - Công an thị xã Bình Long và Viện KSND thị xã tiến hành khám nghiệm hiện trường lúc 04 giờ sáng ngày 22/06/2024 và tiếp tục dựng lại hiện trường lúc 10 giờ cùng ngày, thể hiện:

Hiện trường nơi xảy ra tại nạn giao thông là đoạn đường Trần Hưng Đạo thuộc tổ 03, khu phố Phú Hòa, phường Phú Thịnh, thị xã Bình Long; đoạn đường cong về bên phải theo hướng từ huyện Hớn Quản đi thị xã Bình Long. Mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, chiều rộng mặt đường 9,0m, đây là đoạn đường 02 chiều, có vạch kẻ đường liên tục màu vàng chia mặt đường thành 02 chiều xe chạy riêng biệt, mỗi chiều đường rộng 4,5m. Cách hiện trường khoảng 71,2m về hướng huyện Hớn Quản có biển báo bắt đầu khu vực đông dân cư (biển báo R.420) và biển báo chỗ ngoặt nguy hiểm vòng bên phải. Tại khu vực hiện trường có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên. Cách hiện trường khoảng 53m về hướng thị xã Bình Long có ngã ba.

- Tại khu vực hiện trường có đèn chiếu sáng công cộng đang bật sáng.

- Chọn trụ điện số 36B nằm bên lề phải đường Trần Hưng Đạo theo hướng Hớn Quản - Bình Long làm điểm mốc chuẩn.

- Tất cả các vị trí dấu vết, phương tiện được xác định và đo vuông góc vào mép phải đường Trần Hưng Đạo theo hướng Hớn Quản - Bình Long làm mép đường chuẩn.

- Vết máu (1) có kích thước (0,1 x 0,13)m, tâm vết máu cách mép đường chuẩn 1,4m.

- Vết cày (2) là vết cày liên tục nằm trên mặt đường Trần Hưng Đạo dài 3,8m, có hướng Hớn Quản - Bình Long. Đầu vết cách mép đường chuẩn 3,27m và tâm vết máu (1) về hướng thị xã Bình Long 2,16m, cuối vết cách mép đường chuẩn 4,36m.

- Vùng mảnh vỡ (3) nằm trên mặt đường Trần Hưng Đạo có kích thước (0,7 x 0,4)m, tâm cách mép đường chuẩn 4,71m và cách cuối vết cày (2) về hướng thị xã Bình Long 5m.

- Đầu vết cày (2) cách điểm mốc về hướng huyện Hớn Quản 21,91m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện đối với xe mô tô biển số 93P2-618.12 thể hiện:

- Phần đầu xe: Gương chiếu hậu bên trái bị vỡ, bung rời khỏi vị trí ban đầu phần gương kích thước (12 x 9)cm. Vị trí vỡ cao cách mặt đất 120cm. Đầu tay cầm lái bên trái có vết rách cao su kích thước (2 x 1)cm. Vị trí rách cao cách mặt đất 97cm.

- Phần thân xe: Gác chân sau bên trái có vết mòn kim loại kích thước (2 x 0,5)cm, vị trí mòn cao cách mặt đất 37cm.

- Phần đuôi xe: Không có dấu vết liên quan đến vụ tai nạn giao thông.

- Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống phanh trước, phanh sau, đèn tín hiệu, đèn chiếu sáng, hệ thống lái còn hiệu lực. Công tắc đèn chiếu sáng ở vị trí đóng.

Kết quả đo nồng độ cồn lúc 07 giờ 03 phút, ngày 22/6/2024 thể hiện Đỗ Thành T không có nồng độ cồn trong hơi thở.

Tại bản Kết luận giám định tử thi số 674/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: “1. Các kết quả chính:

- Giập rách phổi.

- Gãy đa xương sườn.

- Đa vết thương phần mềm.

2. Kết luận:

- Kết luận nguyên nhân chết: Hoàng Thị K, sinh năm 1950 bị đa chấn thương gãy xương, giập rách phổi, sốc chấn thương dẫn đến tử vong.

- Kết luận khác: Không”.

Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 đoạn video clip trích xuất từ camera tại nhà ông Vũ Văn Ban gần hiện trường, ghi lại nội dung vụ việc (ký hiệu A).

Tại biển bản giao nhận đồ vật, dữ liệu điện tử ngày 22/6/2024 thể hiện thời gian hiển thị trong đoạn video clip thu giữ là 03 giờ 39 phút nhưng so với thực tế là 02 giờ 59 phút, cùng ngày 22/06/2024.

Tại kết luận giám định số 746/KL-KTHS ngày 30/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: “- Không tìm thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong tập tin video gửi giám định, ký hiệu A.

- Vận tốc xe mô tô di chuyển trên đường Trần Hưng Đạo hướng từ xã Tân Hưng, huyện Hớn Quản đi thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xuất hiện từ 03 giờ 39 phút 36 giây đến 03 giờ 39 phút 37 giây ngày 22/6/2024 trong tập tin video gửi giám định, ký hiệu A là 85,0km/giờ đến 94,0 km/giờ”.

Tại Biên bản ngày 14/10/2024 V/v kiểm tra dữ liệu hình ảnh trong đoạn video clip thu giữ được, Đỗ Thành T thừa nhận người điều khiển xe mô tô biển số 93P2-618.12 gây tai nạn giao thông làm bà Hoàng Thị K chết xuất hiện trong đoạn video chính là T.

Như vậy, Đỗ Thành T điều khiển xe mô tô với vận tốc từ 85km/giờ đến 94km/giờ trong khu vực có biển báo bắt đầu khu vực đông dân cư là vi phạm tốc độ tối đa cho phép xe cơ giới tham gia giao thông trong khu vực đông dân cư (50 km/giờ) theo quy định tại Điều 6 Thông tư 31/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải (Thông tư 31/TT-BGTVT ngày 29/8/2019); không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn theo quy định tại khoản 1, khoản 5, khoản 6 Điều 5 Thông tư 31/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 dẫn đến vi phạm khoản 1, khoản 4 Điều 11, khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ 2008. Các vi phạm trên của Đỗ Thành T là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn làm bà Hoàng Thị K chết.

Điều 5, Điều 6 Thông tư 31/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 quy định:

Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ

Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ dể có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm ...;

...;

5. Qua khu vực có trường học, bệnh viện, bến xe, công trình công cộng tập T nhiều người; khu vực đông dân cư, nhà máy, công sở tập T bên đường; khu vực đang thi công trên đường bộ; hiện trường xảy ra tai nạn giao thông;

6. Khi có người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường;

...

Điều 6. Tốc độ tối đa cho phép xe cơ giới tham gia giao thông trong khu vực đông dân cư (trừ đường cao tốc)

Đường hai chiều: đường một chiều có một làn xe cơ giới, các phương tiện cơ giới được phép chạy tốc độ tối đa 50km/ giờ.

Điều 11, Điều 12 Luật Giao thông đường bộ quy định:

Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ

1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ.

...

4. Tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường.

Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường bảo đảm an toàn.

Điều 12. Tốc độ và khoảng cách giữa các xe

1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường...”.

Từ khi xảy ra tai nạn giao thông và trong quá trình điều tra, truy tố Đỗ Thành T đã khai rõ ràng, thành khẩn.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra đã xử lý, trả lại:

- 01 sọt nhựa màu đỏ, Cơ quan điều tra đã tạm giữ để điều tra cho anh Ngô Viết Thành.

- 01 quần Jean màu đen, 01 áo khoác dài tay màu đen Cơ quan điều tra đã tạm giữu để phục vụ điều tra cho Đỗ Thành T.

- Viện KSND thị xã đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng chuyển 01 xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 93P2-618.12 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe cấp cho ông Ngô Viết Thành do Cơ quan điều tra quản lý, bảo quản sang Chi cục Thi hành án dân sự để xử lý theo quy định.

Về dân sự: Đỗ Thành T đã tác động, nhờ mẹ ruột là bà Ngô Thị Bích T1 bồi thường cho người bị nạn. Bà Hoàng Thị K không có chồng, chỉ có 01 người con duy nhất là bà Hoàng Thị H nên bà T1 đã thỏa thuận và bồi thường cho bà H 85.000.000đ (tám mươi lăm triệu đồng). Bà H nhận đủ và không có yêu cầu khác đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Đỗ Thành T.

Bản Cáo trạng số: 14/CT – VKSBL ngày 21/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Đỗ Thành T về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thành T khai báo thành khẩn hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long đã truy tố đối với bị cáo.

Bà Hoàng Thị H là người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Bà Hoàng Thị K không có chồng, bà K chỉ có một người con là bà H. Sau khi tai nạn xảy ra, bà Hoàng Thị K chết thì gia đình bị cáo T và bà H đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ chi phí mai táng của bà K, với tổng số tiền là 85.000.000 đồng (tám mươi lăm triệu đồng). Bà H đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự; bà H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bà Ngô Thị Bích T1 trình bày: Bà T1 là mẹ ruột của bị cáo T, bà T1 đã thay bị cáo bồi thường chi phí mai táng cho bà Hoàng Thị K, tổng cộng là 85.000.000 đồng. Bà T1 không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền này cho bà T1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước luận tội bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đỗ Thành T như bản cáo trạng. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điêu 54 Bộ luật Hình sự để quyết định cho bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Tuyên bị cáo Đỗ Thành T phạm tội Vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ; áp dụng Điều 38, Điều 50, các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54, điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên trả cho bà Ngô Thị Bích T1 một xe mô tô hiệu Yamaha Sỉius, biển số 93P2-618.12 và một giấy chứng nhận đăng ký xe cấp cho ông Ngô Viết Thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: trong quá trình Điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các chứng cứ tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; các tài liệu chứng cứ do bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về chứng cứ. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thành T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường và bản kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập về thời gian địa điểm xảy ra tội phạm, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Cụ thể: Khoảng 02 giờ 30 phút giờ ngày 22/6/2024, Đỗ Thành T, không có giấy phép lái xe điều khiển xe mô tô có dung tích xilanh 110,3cm2 chạy quá tốc độ cho phép trên đường Trần Hưng Đạo theo hướng từ xã Tân Lợi, huyện Hớn Quản đi trung tâm thị xã Bình Long, T thấy bà Hoàng Thị K đi bộ từ lề trái qua lề phải đường theo hướng xe mô tô T đang chạy nhưng T không giảm tốc độ nên xe mô tô do T điều khiển tông trúng bà K gây tai nạn, làm bà K chết trên đường đi cấp cứu. Vì vậy hành vi của Đỗ Thành T đã phạm vào tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với bị cáo.

Hành vi của bị cáo là điều khiển xe mô tô phân khối lớn khi chưa được cấp giấy phép lái xe theo quy định, chạy quá tốc độ cho phép, không giảm tốc độ khi thấy có người đi qua đường. Hậu quả là gây tai nạn giao thông làm bà Hoàng Thị K bị thương nặng và chết trên đường đi cấp cứu. Hành vi này đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo đã gây ra hậu quả nghiêm trọng, là nguyên nhân gây ra cái chết của bà Hoàng Thị K. Mặc dù tai nạn giao thông là do lỗi vô ý nhưng nó xuất phát từ ý thức cẩu thả của bị cáo. Bị cáo có đủ nhận thức để biết khi tham gia giao thông phải tuân thủ pháp luật về giao thông đường bộ nhưng do cẩu thả nên bị cáo bất chấp, điều khiển xe mô tô phân khối lớn khi bản thân chưa có giấy phép lái xe, vi phạm quy định về tốc độ cho phép, không giảm tốc độ khi thấy có người đi qua đường. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy cần thiết phải đưa bị cáo ra xét xử và xử phạt bị cáo bằng mức án tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo đã tác động bà Ngô Thị Bích T1 là mẹ ruột của bị cáo để bà T1 bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của nạn nhân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra người đại diện hợp pháp của bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về hình phạt: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội có thái độ ăn năn hối cải, bản thân bị cáo có nhiều tình tiết giải nhẹ. Hội đồng xét xử xem xét, quyết định áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật và tạo điều kiện cho bị cáo sớm được hòa nhập cộng đồng.

Quá trình điều tra thể hiện, sau khi gây tai nạn giao thông bị cáo hoảng sợ nên sử dụng ma túy. Việc bị cáo sử dụng ma túy sau khi gây tai nạn không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.

Về phần dân sự: Sau khi gây tai nạn làm bà Hoàng Thị K chết thì bị cáo, bà Ngô Thị Bích T1 và bà Hoàng Thị H là người đại diện hợp pháp của bà K đã thỏa thuận bồi thường phần dân sự xong. Tại phiên tòa bà H không có yêu cầu gì thêm; bà T1 cũng không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền mà bà T1 đã bỏ ra để bồi thường thay cho bị cáo nên tòa không xét.

Về vật chứng vụ án:

Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Ngô Viết Thành 01 sọt nhựa màu đỏ; trả lại cho Đỗ Thành T 01 quần Jean màu đen, 01 áo khoác dài tay màu đen là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 93P2-618.12 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe cấp cho ông Ngô Viết Thành, ông Ngô Viết Thành đã bán xe mô tô này cho bà Ngô Thị Bích T1 là mẹ ruột của bị cáo. Việc bị cáo tự ý lấy xe mô tô của bà T1 rồi điều khiển gây tại nạn bà T1 không biết nên cần trả lại xe cho bà T1.

Về Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long đối với bị cáo tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thành T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

2. Về hình phạt: Áp dụng Điều 38; Điều 50; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Đỗ Thành T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành bản án.

3. Về phần dân sự: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thỏa thuận xong phần dân sự nên tòa án không xét.

4. Về xử lý vật chứng:

Trả lại cho bà Ngô Thị Bích T1 một xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 93P2-618.12 và 01 Giấy đăng ký xe mô tô cấp cho ông Ngô Viết Thành.

5. Về án phí: Căn cứ danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đỗ Thành T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ