- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 238, 235, 264, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, q…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST Ngày 11-4-2025 V/v: Ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
-Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vi Thị Hương Giang
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Đô
Ông Đồng Văn Diện
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 11/4/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-DS ngày 25/3/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Hoàng Thị M trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Đức T ngày 02/02/2007. Đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống và trong công việc làm ăn hàng ngày vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không hoà thuận được để cùng xây dựng hạnh phúc gia đình, vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ với nhau từ đầu năm 2025. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Đức A, sinh ngày 26/11/2007 và Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 26/8/2014. Hiện hai con đang ở cùng chị, các con khoẻ mạnh và phát triển bình thường. Nay ly hôn chị xin được nuôi cả hai con. Không đề nghị Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản: Vợ chồng không có, nên chị không đề nghị Toà án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Đức T trình bày: Chị M trình bày về thời gian kết hôn và quá trình mâu thuẫn là đúng. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn chị M. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung như chị M trình bày là đúng, nay ly hôn vì nguyện vọng của các con muốn ở với mẹ nên anh đồng ý để chị M nuôi cả hai con, không đề nghị Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Vợ chồng không có, nên anh không đề nghị tòa án giải quyết.
Tại phiên toà hôm nay chị Minh, anh T đều vắng mặt, đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, chị M, anh T đều vắng mặt, đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật; đề nghị xét xử cho chị M được ly hôn anh T. Về nuôi con chung: Xử giao chị M nuôi cả hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản: Cả chị M và anh T đều không đề nghị Toà án giải quyết nên đề nghị HĐXX không giải quyết. Về án phí: Chị M phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp. Ngoài ra còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp, phạm vi khởi kiện, thẩm quyền giải quyết: Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Hoàng Thị M khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Đức T, Nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nội dung: Chị M xin được ly hôn anh T, đề nghị giải quyết về con chung, không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Như vậy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang theo quy định tại Điều 28, Điều 35 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay cả chị M, anh T đều vắng mặt, đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Nên HĐXX căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị M đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Đức T ngày 02/02/2007, trên cơ sở tự nguyện hợp pháp, đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống và trong công việc làm ăn hàng ngày vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không hòa thuận được để cùng xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ với nhau từ đầu năm 2025. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn cả chị M và anh T đều thiết tha xin được ly hôn, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay cả chị M và anh T đều vắng mặt và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Qua lời khai của đương sự và qua xác minh, HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã diễn ra căng thẳng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyện vọng xin được ly hôn của chị M và anh T là phù hợp quy định của pháp luật. Do vậy, cần xử cho chị M được ly hôn anh T để giải phóng cho cả hai bên, xét là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nuôi con chung: Quá trình chung sống chị M và anh T sinh được 02 con chung là Nguyễn Đức A, sinh ngày 26/11/2007 và Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 26/8/2014. Hiện hai con đang ở cùng chị M, các cháu khoẻ mạnh và phát triển bình thường. Nay ly hôn cả chị M và anh T đều thống nhất để chị M nuôi cả hai con, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, hai con đều có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay cả chị M và anh T đều vắng mặt và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ các tài liệu xác minh, HĐXX xét thấy các bên có điều kiện nuôi con như nhau, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con trẻ, phù hợp với nguyện vọng của con, cần giao chị M nuôi cả hai con. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Về cấp dưỡng nuôi con, chị M và anh T đều không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết, xét là phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về chia tài sản: Quá trình giải quyết vụ án chị M và anh T đều không đề nghị Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa hôm nay cả chị M và anh T đều vắng mặt, đều có văn bản đề nghị xét xét xử vắng mặt. Nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết, nếu sau này các bên có xảy ra tranh chấp về tài sản, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị M phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 238, 235, 264, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng tiền án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị M được ly hôn anh Nguyễn Đức T.
2. Về nuôi con chung: Xử giao chị Hoàng Thị M nuôi 02 con chung là Nguyễn Đức A, sinh ngày 26/11/2007 và Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 26/8/2014. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về chia tài sản: Không đề nghị giải quyết.
4. Về án phí: Chị Hoàng Thị M phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003799 ngày 11/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang. - VKSND huyện Lạng Giang - Chi cục THA huyện Lạng Giang - UBND xã D, Lạng Giang, Bắc Giang - Các đương sự - Lưu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vi Thị Hương Giang |