- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến N. Buộc vợ chồng chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn C phải có trách nhiệm thanh toán trả vợ chồng anh Nguyễn Tiến N, chị Dương Thị V 35.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2025/DS-ST Ngày 16 - 5 - 2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng Mua bán tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Trọng Khôi
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh
Ông Đồng Văn Diện
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 25/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2025 về việc Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-DS ngày 08/4/2025. Quyết định hoãn phiên toà số: 35/2025/QĐST-DS ngày 29/4/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tiến N, sinh năm 1971 (có mặt);
Nơi cư trú: Thôn L, xã X, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: 1. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1974 (vắng mặt);
2. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1974 (vắng mặt);
Đều cư trú: Thôn L, xã X,huyện Lạng Giang,tỉnhBắc Giang.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Dương Thị V, sinh năm 1975. Do anh Nguyễn Tiến N, sinh năm 1971 là chồng đại diện theo uỷ quyền. Nơi cư trú: Thôn L, xã X, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (chị V vắng mặt, anh N có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Nguyễn Tiến N trình bày: Do có quan hệ quen biết, vợ chồng chị T, anh C làm nghề chăn nuôi. Từ năn 2018 vợ chồng anh có bán cám thức ăn chăn nuôi cho vợ chồng anh C, chị T nhiều lần. Sau khi xuất bán lợn, gà vợ chồng chị T, anh C lại mang tiền sang trả tiền cám cho vợ chồng anh, nhưng lại bớt lại một chút không trả hết. Các lần mua cám và trả tiền đều được ghi sổ theo dõi bán hàng và ký nhận. Lần trả cuối cùng là ngày 22/01/2022, vợ chồng chị T, anh C còn nợ vợ chồng anh 35.695.000đ. Nay anh yêu cầu vợ chồng anh C, chị T có trách nhiệm trả vợ chồng anh 35.695.000đ tiền cám còn nợ và lãi suất 10%/năm trên số tiền còn nợ 35.695.000đ kể từ ngày 22/01/2022 đến ngày xét xử vụ án.
* Bị đơn:
1. Anh Nguyễn Văn C trình bày: Từ năm 2018 vợ chồng anh có mua cám chăn nuôi của anh N, hiện còn nợ anh N 35.695.000đ như vợ chồng anh N trình bày là đúng. Nay anh đồng ý sẽ trả cho gia đình anh N 35.695.000đ tiền cám còn nợ và lãi suất 10%/năm trên số tiền còn nợ 35.695.000đ kể từ ngày 22/01/2022 đến nay.
2. Chị Nguyễn Thị T, mặc dù đã được Tòa án thông báo thụ lý, giao các thủ tục tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật, nhưng chị T vẫn không phối kết hợp để làm việc.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Chị Dương Thị V, Do anh Nguyễn Tiến N, là chồng đại diện theo uỷ quyền, xác nhận toàn bộ lời trình bày của anh Nguyễn Tiến N là đúng. Chị yêu cầu vợ chồng anh C, chị T có trách nhiệm trả vợ chồng chị 35.695.000đ tiền cám còn nợ và lãi suất 10%/năm trên số tiền còn nợ 35.695.000đ kể từ ngày 22/01/2022 đến ngày xét xử vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay: Anh N có mặt, giữ nguyên yêu cầu trên. Chị V do anh N là chồng đại diện theo uỷ quyền có mặt giữ nguyên yêu cầu trên. Anh C, chị T vắng mặt, mặc dù đã được Toà án thông báo phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải quyết, các đương sự trong suốt quá giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã có mặt làm việc theo quy định. Tại phiên tòa hôm nay anh N có mặt, chị V do anh N là chồng đại diện theo uỷ quyền có mặt. Anh C, chị T vắng mặt, mặc dù đã được Toà án thông báo phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai. Hướng đề xuất: Đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Đề nghị căn cứ các Điều 26, 35, 147, 227, 228, 235, 264, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 357, 430, 440 Bộ luật Dân sự 2015. Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến N. Buộc vợ chồng chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn C phải có trách nhiệm thanh toán trả vợ chồng anh Nguyễn Tiến N, chị Dương Thị V 35.695.000đ tiền gốc và 11.839.000đ tiền lãi suất. Tổng cộng cả gốc và lãi suất là 47.534.000đ (Bốn bẩy triệu năm trăm ba bốn nghìn đồng). Ngoài ra còn đề nghị xử lý tiền án phí, tuyên lãi suất chậm thanh toán, việc thi hành án và quyền kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, phát biểu của kiểm sát viên tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp, phạm vi khởi kiện, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn anh Nguyễn Tiến N, khởi kiện đòi tiền mua cám thức ăn chăn nuôi với anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị T; đều cư trú: Thôn L, xã X, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nội dung: Căn cứ sổ theo dõi mua cám do anh N xuất trình, thì anh N có bán cám thức ăn chăn nuôi cho vợ chồng anh C chị T nhiều lần, tính đến ngày 22/01/2022, vợ chồng chị T, anh C còn nợ anh N 35.695.000đ. Nay anh N yêu cầu vợ chồng anh C, chị T có trách nhiệm trả vợ chồng anh N 35.695.000đ tiền cám còn nợ và lãi suất 10%/năm trên số tiền còn nợ 35.695.000đ kể từ ngày 22/01/2022 đến ngày xét xử vụ án. Như vậy xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, phạm vi khởi kiện là đòi lại tiền gốc và lãi suất, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay anh N có mặt, chị V do anh N là chồng đại diện theo uỷ quyền có mặt. Anh C, chị T vắng mặt, mặc dù đã được Toà án thông báo phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai. Nên HĐXX căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xuất phát từ quan hệ quen biết nên từ năm 2018 vợ chồng anh N có bán cám thức ăn chăn nuôi cho vợ chồng anh C, chị T nhiều lần. Sau khi xuất bán lợn, gà vợ chồng chị T, anh C lại mang tiền sang trả tiền cám cho vợ chồng anh N, nhưng bớt lại một chút không trả hết. Các lần mua cám và trả tiền đều được ghi sổ theo dõi bán hàng và ký nhận. Tính đến ngày 22/01/2022 vợ chồng chị T, anh C còn nợ vợ chồng anh N 35.695.000đ tiền gốc mua cám chưa trả. Nay anh N yêu cầu vợ chồng anh C, chị T có trách nhiệm trả vợ chồng anh 35.695.000đ tiền cám còn nợ và lãi suất 10%/năm trên số tiền còn nợ 35.695.000đ kể từ ngày 22/01/2022 đến ngày xét xử vụ án là có căn cứ.
Về yêu cầu đòi tiền nợ gốc: Số tiền gốc anh N khởi kiện 35.695.000đ, phù hợp với số liệu tiền gốc còn nợ được ghi trong bản gốc sổ theo dõi bán hàng do anh N xuất trình có chữ ký xác nhận của anh Nguyễn Văn C. Mặt khác phía anh C xác nhận vợ chồng anh C còn nợ gia đình anh N 35.695.000đ tiền cám, đây là chứng cứ không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do vậy yêu cầu khởi kiện đòi tiền nợ gốc mua cám 35.695.000đ của anh N là có căn cứ, phù hợp Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015 cần chấp nhận.
Về yêu cầu đòi tiền lãi suất: Anh N yêu cầu vợ chồng anh C, chị T có trách nhiệm trả vợ chồng anh N tiền lãi suất 10%/năm trên số tiền còn nợ 35.695.000đ kể từ ngày 22/01/2022 đến ngày xét xử vụ án. Phía anh C đồng ý sẽ trả cho gia đình anh N 35.695.000đ tiền cám còn nợ và lãi suất 10%/năm trên số tiền còn nợ 35.695.000đ kể từ ngày 22/01/2022 đến nay. Như vậy xác định được vợ chồng anh C đã cố tình chiếm dụng vốn của anh N, gây thiệt hại về tiền vốn cho N. Nay anh N yêu cầu tính lãi suất của khoản tiền còn nợ là 10%/ năm kể từ ngày 22/01/2022 đến ngày xét xử vụ án, xét là phù hợp cần chấp nhận theo Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015. Lãi suất được tính cụ thể như sau: Từ ngày 22/01/2022 đến ngày 16/5/2025 là 03 năm 03 tháng 24 ngày. Lãi suất cụ thể: 35.695.000đ x 10%/năm x 03 năm 03 tháng 24 ngày = 11.839.000đ.
Từ những phân tích và nhận định trên, HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến N. Buộc vợ chồng chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn C phải có trách nhiệm thanh toán trả vợ chồng anh Nguyễn Tiến N, chị Dương Thị V 35.695.000đ tiền gốc và 11.839.000đ tiền lãi suất. Tổng cộng cả gốc và lãi suất là 47.534.000đ (Bốn bẩy triệu năm trăm ba bốn nghìn đồng). Xét là phù hợp Điều 357, 440 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên vợ chồng chị T, anh C phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo pháp luật. Hoàn trả anh N tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 147, 227, 228, 235, 264, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 357, 430, 440 Bộ luật Dân sự 2015. Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến N. Buộc vợ chồng chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn C phải có trách nhiệm thanh toán trả vợ chồng anh Nguyễn Tiến N, chị Dương Thị V 35.695.000đ tiền gốc và 11.839.000đ tiền lãi suất. Tổng cả gốc và lãi suất là 47.534.000đ (Bốn bẩy triệu năm trăm ba bốn nghìn đồng).
2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị T chịu 2.377.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả anh Nguyễn Tiến N 1.214.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003756 ngày 17/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành, mà người phải thi hành án không thi hành, hoặc thi hành chưa xong; thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án tại thời điểm thanh toán.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho đương sự có mặt biết, được quyền kháng cáo bản án trong hời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt, niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang. - VKSND huyện Lạng Giang - Chi cục THA huyện Lạng Giang - Các đương sự - Lưu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Thân Trọng Khôi |