vanban.org

Bản án 26/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 26/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

Xử phạt: Bị cáo Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N 01 năm 09 tháng tù. Tổng hợp với 15 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2023/HSST ngày 21.9.2023 của TAND quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, buộc bị cáo Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N2 chấp hành hình phạt chung là 03 (Ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật hình sự buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 26/2024/HSST
Ngày 26/01/2024

NH¢N DANH

N¦íc céng hßa x· héi chñ nghÜa viÖt nam

TßA ¸N NH©N D©N QUËN THANH KHª - TP. §µ N½NG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Cường

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận và ông Trần Minh Thân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Minh Anh - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 187/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N; Tên gọi khác: M; Sinh ngày 07 tháng 6 năm 1990 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký thường trú và chổ ở hiện nay: Tổ C phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Bán hàng; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lương Văn X, sinh năm 1966 và bà Đặng Thị Phương N1, sinh năm 1965. Có chồng là Ngô Thanh T đã ly hôn, có 01 con sinh năm 2017.

* Tiền án:

- Ngày 25.4.2019, bị TAND quận Hải Châu xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

- Ngày 28.8.2019, bị TAND quận Sơn Trà xử phạt 30 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

* Tiền sự: Không;

- Nhân thân: Ngày 21.9.2023, bị TAND quận Liên Chiều xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Bị cáo đang chấp hành án trong vụ án khác, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Lê Quang B, sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ H phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Phạm Văn L, sinh năm 1974. Địa chỉ: E đường T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;

- Ông Đặng Minh K, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ G phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;

- Ông Phạm Văn L1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ H phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;

- Ông Phan Vũ L2, sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ A phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;

- Ông Phan Viết T1, sinh năm 1989. Trú tại: E T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt;

- Ông Võ Đại Phương T2, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt;

- Ông Nguyễn Trọng A, sinh năm 1969. Địa chỉ: A đường L, tổ A phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Trong 02 ngày 13/4/2023 và ngày 19/4/2023, Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N đã 02 lần chiếm đoạt tài sản của anh Lê Quang B để, cụ thể:

Lần 1: Vào ngày 10/02/2023, anh B có mượn anh Phạm Văn L1 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 43C1-519.19 để làm phương tiện đi lại.

Khoảng 17 giờ ngày 13/4/2023, anh B và Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N uống quán cà phê G, số B, đường K, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Lúc này, N hỏi mượn anh B chiếc xe mô tô Yamaha Exciter biển kiểm soát 43C1- 51919 đi công việc. Anh B đồng ý đưa chìa khóa và giấy tờ xe cho N. Sau khi đi công việc xong, do không có tiền tiêu xài nên N đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mang đi bán. N điều khiển xe đến tiệm mua bán xe máy cũ tại số A đường T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng do anh Phan Vũ L2 làm chủ thỏa thuận bán xe với số tiền 14.500.000 đồng và N viết giấy bán xe đưa cho anh L2.

Đến ngày 15/4/2023, anh L2 bán lại chiếc xe trên cho anh Phan Viết T1 với số tiền 17.000.000 đồng.

Theo Kết luận định giá tài sản số 59 ngày 25/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận L xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exicter, biển kiểm soát 43C1-519.19, màu trắng đỏ có giá trị là 17.000.000 đồng .

Lần 2: Vào ngày 17/4/2023, anh Lê Quang B nhờ anh Đặng Minh K thuê 01 xe mô tô hiệu Air Blade biển kiểm soát 43D1-506.07 từ Cửa hàng cho thuê xe P đường T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng do anh Phạm Văn L với giá 150.000 đồng/ngày để làm phương tiện đi lại.

Khoảng 20 giờ ngày 19/4/2023, anh B chở Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N đi uống nước ở quán đối diện nhà số A đường N, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng. Một lúc sau, N hỏi anh B mượn xe đi công việc, anh B đồng ý đưa chìa khóa. Sau khi có xe, do cần tiền tiêu xài N nảy sinh ý định chiếm đoạt nên lên mạng xã hội facebook vào trang quảng cáo cầm cố xe máy và liên hệ với người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) để cầm cố xe, hẹn địa điểm giao dịch tại ngã tư L - T, thành phố Đà Nẵng. Khoảng 30 phút sau, N đến điểm hẹn gặp người phụ nữ và người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) đi xe mô tô hiệu Nouvo (không rõ biển kiểm soát) thỏa thuận cầm xe lấy số tiền 5.000.000 đồng và hẹn 01 tuần sau sẽ chuộc lại. Do N không quay lại trả xe, anh B liên hệ thì N hứa hẹn sẽ mang xe trả lại cho anh B. Đến ngày 21/4/2023 tại nhà nghỉ T6 số 20 đường D, quận L, thành phố Đà Nẵng, anh B cùng anh K gặp N yêu cầu trả lại xe thì N cho biết đã cầm cố chiếc xe trên và hứa vài ngày lấy lại xe trả cho anh B. Sau đó, anh K liên tục nhắn tin qua tài khoản messenger có tên “T3 Bất biến” của N yêu cầu trả lại xe nhưng N chỉ hứa hẹn và không trả lại. Hiện tài sản không thu hồi được.

Đến ngày 09/5/2023, anh B biết tin N đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, thành phố Đà Nẵng khởi tố, bắt giam về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên đến Công an phường X báo sự việc.

Theo Kết luận định giá tài sản số 92 ngày 21/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T xác định: 01 xe mô tô Honda Air Blade màu đỏ - đen biển kiểm soát 43D1-506.07 có giá trị 21.468.000 đồng.

* Vật chứng:

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exicter, màu trắng đỏ, biển kiểm soát 43C1-519.19; 01 Giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exicter, màu trắng đỏ, biển kiểm soát 43C1-519.19 mang tên Võ Đại Phương T2

+ 13 trang giấy A4 ảnh chụp màn hình điện thoại nội dung tin nhắn giữa anh Đặng Minh K với Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Anh Lê Quang B yêu cầu Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N bồi thường giá trị xe mô tô 43D1-506.07 đã chiếm đoạt với số tiền 21.468.000 đồng, anh Phan Vũ L2 yêu cầu N phải trả lại số tiền 14.500.000 đồng tiền mua xe nhưng N chưa bồi thường.

- Anh Phan Viết T1 đã nhận lại tiền mua xe 17.000.000 đồng từ anh L2 nên không có yêu cầu gì thêm.

- Anh Phạm Văn L và anh Đặng Minh K đã thỏa thuận bồi thường giá trị xe và tiền thuê xe mô tô Honda Air Blade màu đỏ - đen biển kiểm soát 43D1-506.07 với nhau; đồng thời, giữa anh Lê Quang B và anh K cũng thỏa thuận về việc bồi thường giá trị xe đã mượn. Anh L, anh K không có yêu cầu gì

Bản Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 27/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N về tội "Lạm dựng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự;

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa trình bày luận tội đã giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp 15 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2023/HSST ngày 21.9.2023 của TAND quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng để buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường giá trị xe cho bị hại và người liên quan.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ân hận về hành vi của mình, xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được xem xét để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N đã khai nhận toàn bộ sự việc chiếm đoạt 02 chiếc xe mô tô của ông Lê Quang B. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Trong 02 ngày 13/4/2023 và ngày 19/4/2023 trên địa bàn quận T và quận L, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N đã lợi dụng sự tin tưởng của anh Lê Quang B, đã 02 lần mượn xe mang đi bán và cầm cố để lấy tiền tiêu xài, không có khả năng trả lại. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 38.468.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" quy định tại Điều 175 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo N là người có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được rằng việc lợi dụng sự tin tưởng, tín nhiệm của người khác để thực hiện hành vi trái pháp luật nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm và ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải lao động nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể là bị cáo đã 02 lần mượn xe máy của ông Lê Quang B để đem đi bán và cầm cố lấy tiền tiêu xài. Với hành vi chiếm đoạt tài sản có trị giá 38.468.000 đồng, bị cáo đã phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" với tình tiết định khung cơ bản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự. Nhân thân của bị cáo không tốt, bị cáo liên tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác và bị xử lý từ năm 2019 cho đến nay, cụ thể, ngày 25.4.2019 bị TAND quận Hải Châu xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, ngày 28.8.2019 bị TAND quận Sơn Trà xử phạt 30 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, ngày 21.9.2023 bị TAND quận Liên Chiều xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Lần phạm tội này bị cáo chưa được xóa án tích, bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 02 lần nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” và “phạm tội 2 lần trở lên” quy định tại điếm h, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo một thời gian để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm pháp luật, đã chiếm đoạt tài sản của người khác, gây ra thiệt hại nên bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 584, 589 Bộ luật dân sự.

Cụ thể: Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Lê Quang B giá trị xe mô tô Honda Air Blade BKS 43D1 - 506. 07là 21.468.000đ, bồi thường số tiền bán xe Yamaha Exicter biển KS 43C1 - 519.19 cho ông Phan Vũ L2 số tiền 14.500.000đ.

Về vật chứng:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exicter, màu trắng đỏ, biển kiểm soát 43C1-519.19; 01 Giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exicter, màu trắng đỏ, biển kiểm soát 43C1-519.19 mang tên Võ Đại Phương T2. Qua điều tra xác định xe mô tô 43C1-519.19 do anh Võ Đại Phương T2 đứng tên chủ sở hữu mua vào tháng 7/2017. Đến tháng 11/2018, anh T2 bán lại xe cho anh Phạm Văn L1 nhưng anh L1 chưa làm thủ tục thay đổi đăng ký sở hữu xe. Ngày 10/02/2023, anh L1 cho anh Lê Quang B mượn xe làm phương tiện đi lại thì bị Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N mang đi bán và bị tạm giữ. Ngày 25/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã trả lại xe cho anh L1.

- 13 trang giấy A4 ảnh chụp màn hình điện thoại nội dung tin nhắn giữa anh Đặng Minh K với Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N, là tài liệu kèm theo hồ sơ vụ án.

Về án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm, bị cáo N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: Điềm a Khoản 1 Điều 175; điểm h, g khoản 1 điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

- Xử phạt: Bị cáo Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N 01 năm 09 tháng tù.

Tổng hợp với 15 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2023/HSST ngày 21.9.2023 của TAND quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, buộc bị cáo Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N2 chấp hành hình phạt chung là 03 (Ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07.5.2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 589 Bộ luật dân sự; Điều 48 Bộ luật hình sự buộc bị cáo Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N:

- Bồi thường cho ông Lê Quang B 21.468.000đ;

- Bồi thường cho ông Phan Vũ L2 số tiền 14.500.000đ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng thời gian và số tiền phải thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Lương Đỗ Ngọc Quỳnh N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.798.400đ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu câù thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ