- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn Đ Mua bán trái phép mt - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 17/12/2023.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày 29-3-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lại Văn Phê;
Ông Tạ Kỳ Tr.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã
Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh
tham gia phiên toà: Ông Võ Trường Thọ – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1996, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: khu phố LK, phường GL, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh Tg và bà Trần Thị Thúy H; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự: tại Quyết định số 751/QĐ-XPHC-ĐT ngày 24/12/2022 của Công an huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, xử phạt Nguyễn Tấn Đ số tiền 6.500.000 đ ng về hành vi “Cố ý gây thương tích” (đã nộp phạt); bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 17/12/2023, tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1/ Anh Trần Văn Tr, sinh năm 1993; cư trú tại: khu phố B2, phường GB, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
2/ Anh Nguyễn Hùng L, sinh năm 1995; cư trú tại: khu phố LT, phường GL, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 19 giờ 20 phút ngày 17/12/2023, tại khu vực đường nhựa thuộc khu phố PH, phường GB, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Công an thị xã Trảng Bàng bắt quả tang Nguyễn Tấn Đ đang bán trái phép 01 bịch nylon trong suốt, có viền màu đỏ, được bịt kín bên trong có chứa tinh thể rắn (nghi là chất ma túy, kí hiệu M1) cho Nguyễn Hùng L và Trần Văn Tr với số tiền 500.000 đ ng. Thu giữ thêm: tiền Việt Nam 500.000 đ ng và một số vật chứng khác có liên quan.
Qua điều tra, thể hiện: vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 17/12/2023, do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên Nguyễn Hùng L hùn số tiền 300.000 đ ng, Trần Văn Tr hùn số tiền 200.000 đ ng để mua chất ma túy sử dụng. L điện thoại qua mạng xã hội Zalo cho Nguyễn Tấn Đ hỏi mua 500.000 đ ng chất ma túy thì Đ đ ng ý bán và hẹn địa điểm giao nhận tại khu vực gần ngã tư BB thuộc khu phố PH, phường GB, thị xã Trảng Bàng. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô biển số 67L1-288.06 đến xã PĐ, huyện GD, tỉnh Tây Ninh gặp người thanh niên tên “T” khoảng 27 tuổi (không rõ địa chỉ) mua 01 bịch chất ma túy với số tiền 400.000 đ ng; Đ cất giấu trong lòng bàn tay phải điều khiển xe mô tô đến điểm hẹn bán cho L 01 bịch nylon trong suốt, có viền màu đỏ, được bịt kín bên trong có chứa chất ma túy và nhận số tiền 500.000 đ ng từ Tr thì bị lực lượng công an bắt quả tang.
Ngoài ra, Đ khai nhận: vào ngày 15/12/2023, Đ còn bán trái phép chất ma túy cho L 01 lần với số tiền 500.000 đ ng.
Tại Kết luận giám định số 1990/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể rắn (kí hiệu M1) gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 0,0798 gam (đã sử dụng hết trong công tác giám định).
Cáo trạng số 16/CT-VKSTrB ngày 25 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng đã truy tố Nguyễn Tấn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận: hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đ ng xét xử:
- Về hình phạt: căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo không phát biểu lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố đã thể hiện rõ lời trình bày của người làm chứng và việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đ ng xét xử căn cứ vào Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét xử vắng mặt người làm chứng.
Về hành vi của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo khai nhận: vì động cơ vụ lợi cá nhân, mục đích là có ma túy để sử dụng và có tiền tiêu xài nên vào ngày 15/12/2023, Nguyễn Tấn Đ đã bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Hùng L 01 lần để thu lợi bất chính. Đến ngày 17/12/2023, tại khu phố PH, phường GB, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Tấn Đ tiếp tục bán trái phép cho Nguyễn Hùng L và Trần Văn Tr 01 bịch nylon trong suốt, có viền màu đỏ, được bịt kín bên trong có chứa 0,0798 gam chất ma túy, loại Methamphetamine thì bị bắt quả tang.
Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong h sơ vụ án và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo biết rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy gây nguy hại cho sức khỏe con người, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện việc mua bán ma túy nhiều lần cho nhiều người nghiện nhằm mục đích thu lợi bất chính. Từ hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, tiếp tay cho những đối tượng nghiện ma túy đi vào con đường tệ nạn xã hội, gây nhiều hệ lụy cho xã hội, làm phát sinh nhiều tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Khi quyết định hình phạt Hội đ ng xét xử còn xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Cụ thể:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bị cáo và tự thú khai ra những lần phạm tội trước nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có 01 tiền sự vào ngày 24/12/2022, bị Công an huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Cố ý gây thương tích” (đã nộp phạt, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính). Sau khi bị xử phạt vi phạm hành chính, bị cáo cũng không nhận thức về hành vi vi phạm pháp luật của mình để tăng cường ý thức chấp hành pháp luật mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trái pháp luật là sử dụng trái phép chất ma túy dẫn đến hành vi phạm tội rất nghiêm trọng là mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: qua điều tra, xác minh bị cáo không có tài sản nên Hội đ ng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Nguyễn Tấn Đ, Nguyễn Hùng L, Trần Văn Tr đã bị Công an thị xã Trảng Bàng xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Riêng người thanh niên tên “T” mà Đ khai đã bán chất ma túy cho Đ, hiện không rõ địa chỉ và chưa làm việc được; Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ để xử lý sau.
Đối với bà Lê Thị Ngọc D là chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu xám, biển số 67L1-288.06: quá trình điều tra xác định bà D là người cho bị cáo Đ mượn xe mô tô biển số 67L1-288.06 để làm phương tiện đi lại, bà D không biết việc bị cáo Đ sử dụng xe mô tô này để đi mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý bà D và trả lại xe mô tô này cho bà D là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số IMEI: 356570081863625, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0773748371 (đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo Đ: điện thoại di động này được sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy, điện thoại còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đ ng tiền Việt Nam, là số tiền do Nguyễn Hùng L và Trần Văn Tr dùng để mua ma túy của bị cáo Đ nên cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 (một) bật lửa màu vàng đ ng (đã qua sử dụng); 01 (một) bình thủy tinh, nắp màu vàng, trong bình thủy tinh có 03 (ba) hột xí ngầu màu xanh-tím, trên nắp có gắn 01 (một) ống hút nhựa màu trắng-vàng và 01 (một) ống thủy tinh dạng phễu, bên trong không chứa gì; 01 (một) cây kéo bằng kim loại (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống hút nhựa sọc trắng; 01 (một) bật lửa màu tím (đã qua sử dụng): là dụng cụ để bị cáo Đ sử dụng trái phép chất ma túy, không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào các điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 17/12/2023.
2. Xử lý vật chứng: căn cứ vào các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
2.1. Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số IMEI: 356570081863625, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0773748371 (đã qua sử dụng);
- Số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đ ng, tiền Việt Nam.
2.2. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
- 01 (một) bật lửa màu vàng đ ng (đã qua sử dụng).
- 01 (một) bình thủy tinh, nắp màu vàng, trong bình thủy tinh có 03 (ba) hột xí ngầu màu xanh-tím, trên nắp có gắn 01 (một) ống hút nhựa màu trắng-vàng và 01 (một) ống thủy tinh dạng phễu, bên trong không chứa gì.
- 01 (một) cây kéo bằng kim loại (đã qua sử dụng).
- 01 (một) đoạn ống hút nhựa sọc trắng.
- 01 (một) bật lửa màu tím (đã qua sử dụng).
3. Án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Tấn Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đ ng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao TP.HCM; - Phòng KTNV. TATTN; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Cơ quan Thi hành án Hình sự; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng; - Nhà tạm giữ CA thị xã Trảng Bàng; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu h sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Thư |