- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Thào Thị S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong của Công an huyện Phù Yên bên trong có 03 (ba) mảnh nilon màu trắng (mô tả chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản hồi 14 giờ 30 phút ngày 02/12/…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày: 27-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Yến, bà Lê Thị Bống.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngoãn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Phù Yên:
- Người tiến hành tố tụng:
Kiểm sát viên: Bà Cầm Thị Quỳnh Anh.
- Người tham gia tố tụng khác:
Cán bộ, chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Hoàng Trung Kiên, ông Đinh Văn Duy. Có mặt.
Ngày 27/12/2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Yên và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Phù Yên tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 29/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 13/12/2024, đối với bị cáo:
Thào Thị S, sinh ngày 20/11/1985 tại xã ST, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản ST, xã ST, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thào A V (đã chết) và bà Mùa Thị P (đã chết); có chồng là Mùa A T và 03 (con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2011); tiền án: Ngày 24/3/2022 bị Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 22 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (ngày 20/8/2023 đã chấp hành xong hình phạt); tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2024 cho đến nay; có mặt.
Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Mùa A Sáy, sinh năm 1987; chức vụ: Công chức văn hoá xã Kim Bon; nơi công tác: Ủy ban nhân dân xã Kim Bon, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: bản Trò 2, xã Huy Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14h ngày 11/10/2024, Tổ công tác Công an xã ST, huyện Phù Yên, phối hợp với Tổ bảo vệ an ninh trật tự bản Lũng Khoai, xã ST, làm nhiệm vụ tại khu vực bản Lũng Khoai phát hiện bắt quả tang Thào Thị S về hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói bên ngoài được gói bằng nilon mầu trắng, bên trong có chứa 02 gói ni lon mầu trắng, trong mỗi gói đều chứa chất bột mầu trắng nghi là ma tuý. S khai nhận chất bột mầu trắng là ma tuý Heroine, mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân.
Trong quá trình điều tra, Thào Thị S khai: Khoảng 14h ngày 10/10/2024, S đi bộ từ nhà đến khu vực bản LS, xã HĐ, huyện BY, để bán vải thổ cẩm và ngủ nhờ nhà người quen ở đó. Sáng ngày 11/10/2024, do không bán được vải nên S đi bộ về nhà. Khi đi trên đường thuộc địa phận bản LS, S gặp một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 40 đến 50 tuổi không biết tên, địa chỉ. S hỏi mua được của người phụ nữ này 02 gói Heroin giá 100.000 đồng. Sau đó, S cầm trong tay phải và đi bộ về. Khi đến địa phận bản Lũng Khoai, xã ST thì bị phát hiện, bắt giữ.
Ngày 11/10/2024, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên tiến hành mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng. Kết quả: Vật chứng thu của Thào Thị S là 02 gói: Gói thứ nhất có khối lượng 0,237 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu S1. Gói thứ hai có khối lượng 0,163 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giả định, ký hiệu S2. Kết luận giám định số 1949/KL-KTHS ngày 14/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La xác định: Mẫu gửi giám định ký hiệu S1, S2 ma túy, loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định S1 = 0,237gam, S2 = 0,163 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,4 gam, loại Heroine. Mẫu đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai mua của một người phụ nữ khoảng 40 đến 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác xác định nhân thân, lai lịch của người này để mở rộng vụ án.
Cáo trạng số: 80/CT-VKS ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, truy tố bị cáo bị cáo Thào Thị S về tội Tàng trữ phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi như nội dung bản cáo trạng. Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thào Thị S từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ vật chứng còn lại trong vụ án do không có giá trị. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Thào Thị S giữ nguyên lời khai như tại Cơ quan điều tra và nhất trí với cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến sự việc. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn mua 0,4 gam Heroin để sử dụng. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi bị phát hiện bắt giữ, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm minh, và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ nghèo, không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, đề nghị của Viện kiểm sát về hình phạt chính và việc không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và 03 mảnh nilon đựng ma túy là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Về đối tượng có liên quan: Bị cáo khai mua ma túy của một người phụ nữ không biết tên, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo, không có chứng cứ nào khác để điều tra, xử lý, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng ma túy bị bắt giữ.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc hộ nghèo và là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Thào Thị S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt Thào Thị S 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/10/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong của Công an huyện Phù Yên bên trong có 03 (ba) mảnh nilon màu trắng (mô tả chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản hồi 14 giờ 30 phút ngày 02/12/2024 giữa Công an huyện Phù Yên với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Yên).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/12/2024)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Phù Yên; - Công an huyện Phù Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Cơ quan THAHS CA tỉnh Sơn La; - Cơ quan THAHS CA huyện Phù Yên; - Trại tạm giam CA tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện Phù Yên; - Bị cáo; - THAHS; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nam |