- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lý Khánh T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/8/2023.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày 26 – 01 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Việt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Huy Hoàng
2. Ông Đặng Văn Ẩn
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường An - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 307/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý Khánh T (tên gọi khác: M), giới tính: N; sinh năm 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Số E, đường L, Phường I, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Kim T1 và bà Thái Kim H; bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 04 người con; bị cáo có vợ con và 03 người con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 27/6/2007, bị cáo bị Toà án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 122/2007/HSST). Qua xác minh, bị cáo T đã nộp 100.000 đồng sung công quỹ nhà nước và 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Ngày 19/01/2011, bị cáo bị Toà án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” (Bản án số 15/2011/HSST). Ngày 12/01/2012, bị cáo T chấp hành xong án phạt tù. Qua xác minh, bị cáo T đã thi hành nộp phạt số tiền 5.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước và 200.000 đồng án phí hình sự. Bị cáo T đã được xoá án tích.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/8/2023.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Tạ Ngọc T2 (vắng mặt).
Địa chỉ: 5 Tỉnh lộ 10, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 26/8/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an huyện B kết hợp với Công an Thị trấn T, huyện B kiểm tra Lý Khánh T đang điều khiển xe mô tô biển số 59K1-135.83 tại trước khách sạn H1, địa chỉ số G, đường số B, Khu phố B, Thị trấn T, huyện B. Quá trình kiểm tra, phát hiện trên tay phải của T đang cầm 01 túi nylon màu đen bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu T khai nhận là ma túy đá nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Do đó, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật và đưa Lý Khánh T về trụ sở Công an Thị trấn T, huyện B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vụ việc trên được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để điều tra xử lý. Qua kiểm tra, T dương tính với ma tuý loại Methamphetamine.
Bản kết luận giám định số 9453/KL-KTHS ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Phòng K Công an Thành Phố H kết luận: “Tinh thể không màu trong 01 gói nylon thu giữ của Lý Khánh T là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2963gam loại Methamphetamine”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Lý Khánh T khai nhận: Vào khoảng 20 giờ ngày 26/8/2023, T điều khiển xe mô tô biển số 59K1-135.83 đến khu vực trước công viên P thuộc Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh tìm người đàn ông tên T3 (không rõ lai lịch) để mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Khi mua ma tuý xong, T dự định thuê phòng tại khách sạn H1, địa chỉ số G - I, đường số B, Khu phố E, Thị trấn T, huyện B để sử dụng ma tuý thì bị công an kiểm tra, phát hiện bắt giữ quả tang cùng vật chứng. Lời khai của T phù hợp với lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Đối với người tên T3 đã bán ma túy cho bị cáo T, do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Vật chứng của vụ án gồm:
- 01 túi nylon màu đen bên trong có 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể rắn không màu qua giám định có khối lượng 0,2963g, loại Methamphetamine.
- 01 ống thuỷ tinh.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen thu giữ của bị cáo T.
- 01 xe mô tô biển số 59K1-135.83 số máy: 44S1-041160, số khung: RLCL44S10BY041155, do ông Tạ Ngọc T2 đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh, ông T2 không có mặt tại địa phương. Bị cáo T khai nhận xe trên mua tại một cửa hàng mua bán xe (không nhớ rõ địa chỉ) giá 3.500.000 đồng nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả.
- 01 đĩa ghi âm - ghi hình của bị cáo T khai nhận hành vi phạm tội (chuyển cùng hồ sơ vụ án).
Cáo trạng số 290/CT-VKS ngày 10/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lý Khánh T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố đúng, không oan, sai; bị cáo rất ăn năn hối hận; bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét thấy lời khai tại phiên tòa của bị cáo Lý Khánh T phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng của vụ án, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận vào ngày 26/8/2023, bị cáo Lý Khánh T đã thực hiện hành vi tàng trữ 0,2963 gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang trước địa chỉ số G, đường số B, khu phố E, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
. Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Mặc dù, biết pháp luật cấm tàng trữ trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước, mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra các căn bệnh xã hội và các loại tội phạm khác.
. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lý Khánh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu. Ngày 27/6/2007, bị cáo bị Toà án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 122/2007/HSST. Ngày 19/01/2011, bị cáo bị Toà án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo Bản án số 15/2011/HSST. Vì vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cần lưu ý đến nhân thân của bị cáo mà có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Trường thành k khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Đối với người tên T3 đã bán ma túy cho cho bị cáo do chưa rõ lai lịch, nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra cần tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
. Về xử lý vật chứng vụ án:
- 01 (một) túi nylon màu đen bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể rắn không màu qua giám định có khối lượng 0,2963g, loại Methamphetamine; khối lượng còn lại sau khi sử dụng phục vụ giám định là 0,2508 gam; 01 (một) ống thuỷ tinh. Xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen thu giữ của bị cáo T không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo T theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- 01 xe mô tô biển số 59K1-135.83, số máy: 44S1-041160, số khung: RLCL44S10BY041155, do ông Tạ Ngọc T2 đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh, ông T2 không có mặt tại địa phương. Bị cáo T khai nhận xe trên mua tại một cửa hàng mua bán xe (không nhớ rõ địa chỉ) giá 3.500.000 đồng nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó, giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự huyện B tiếp tục đăng báo thông tin truy tìm chủ sở hữu theo quy định, hết thời hạn thông báo mà không có chủ sở hữu liên hệ thì tịch thu và nộp ngân sách nhà nước.
- 01 đĩa ghi âm - ghi hình đối với bị cáo Lý Khánh T tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng. Hội đồng xét xử cũng chấp nhận ý kiến của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Lý Khánh T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/8/2023.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) túi nylon màu đen bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể rắn không màu qua giám định có khối lượng 0,2963g, loại Methamphetamine, khối lượng còn lại sau khi sử dụng phục vụ giám định là 0,2508 gam; 01 (một) ống thuỷ tinh.
- Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh 01 (một) xe mô tô biển số 59K1-135.83, số máy: 44S1-041160, số khung: RLCL44S10BY041155 để Chi cục Thi hành án dân sự đăng báo truy tìm chủ sở hữu và giao trả theo quy định. Trường hợp hết thời hạn thông báo mà không truy tìm được chủ sở hữu thì tịch thu và nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô biển số 59K1-135.83, số máy: 44S1-041160, số khung: RLCL44S10BY041155.
- Giao trả lại cho bị cáo Lý Khánh T: 01 (một) điện thoại di động hiệu N1 màu đen.
Các vật chứng này hiện này đang giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định chuyển vật chứng số 225/QĐ-VKS ngày 09/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh và Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16/11/2023 giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh;
- Tiếp tục lưu trữ 01 (một) đĩa DVD ghi âm, ghi hình đối với bị cáo Lý Khánh T cùng hồ sơ vụ án.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TPHCM; (1) - Viện kiểm sát nhân dân TPHCM; (1) - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh; (1) - Công an huyện Bình Chánh; (1) - Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh; (1) - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an TPHCM; (1) - Sở Tư pháp TPHCM; (1) - Bị cáo; (1) - Đương sự; (1) - Lưu hs; (1) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tấn Việt |