vanban.org

Bản án 26/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 10/04/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/04/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. VKSND tỉnh Quảng Ninh;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Ngọc Sơn cùng đồng phạm bị xét xử tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HS-PT
Ngày: 10-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Hải Toản

Các Thẩm phán: ông Phạm Duy Hải và ông Ngô Văn Thắng.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2024/TLPT-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Duy M và Hoàng Ngọc S do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Duy M, Hoàng Ngọc S đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 315/2023/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Duy M, sinh ngày 01/7/1989 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi ĐKHKTT: tổ E, khu F, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: phòng A chung cư R, tổ I, khu D, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoài D và bà Lại Thị H; có vợ đã ly hôn và có 02 con; tiền án, tiền sự: không có;

Nhân thân:

+ Ngày 26/12/2006 bị Toà án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Ngày 30/10/2009 đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

+ Ngày 20/3/2014 bị Toà án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Ngày 31/8/2015 đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

+ Ngày 17/4/2018 bị Toà án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 01/7/2018.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

2. Hoàng Ngọc S; sinh ngày 05/2/1995, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi ĐKHKTT: tổ F, khu F, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: phòng A chung cư R, tổ I, khu D, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh và tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Ngọc T và bà Nguyễn Thị N; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không;

Bị bắt ngày 13/3/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Duy M và Hoàng Ngọc S có quan hệ quen biết, S thường xuyên đến nhà M chơi. Đến tháng 11/2022, M rủ S cùng tham gia bán ma túy. S giúp M nhận ma túy, chia thành các gói để bán. Khi có người liên hệ mua ma túy, M trực tiếp đi bán hoặc cùng S đi giao ma túy cho người mua, nếu M không đi giao ma túy thì S đi giao ma túy. M cho S ăn ở, sinh hoạt tại nhà M, sử dụng ma túy không mất tiền và cho S tiền tiêu xài. Từ tháng 11/2022 đến ngày 13/3/2023, tại địa bàn thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, M và S có hành vi nhiều lần bán ma túy cho các đối tượng, cụ thể:

1. Hành vi Nguyễn Duy M và Hoàng Ngọc S bán trái phép chất ma túy:

Lần thứ nhất: Tối ngày 02/01/2023, Trần Quốc C, sinh năm 1996, trú tại tổ F, khu D, phường V, thành phố H, gọi điện cho M hỏi mua 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) ma tuý Ketamine. M đồng ý và hẹn C đến khu vực vỉa hè Chung cư L thuộc tổ C, khu C, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh để giao dịch. Sau đó, M bảo S điều khiển xe ôtô biển kiểm soát (BKS) 14C - 216.93 chở đến chỗ hẹn và bán cho C 01 (một) túi ma tuý Ketamine với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), C thanh toán tiền bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của M.

Lần thứ hai: Tối ngày 14/02/2023, C gọi điện cho M hỏi mua 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) ma tuý Ketamine. M đồng ý. C và M hẹn giao dịch ở cửa hàng H2, tổ E, khu A, phường H, thành phố H. Sau đó, theo chỉ đạo của M thì S cầm 01 túi ma tuý Ketamine đến chỗ hẹn giao ma túy, C chuyển khoản thanh toán tiền vào tài khoản ngân hàng của M.

Lần thứ ba: Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 06/3/2023, Đặng Huy H1, sinh năm 1994, trú tại tổ F, khu A, phường H, thành phố H, gọi điện cho M hỏi mua 01 (một) túi ma túy Ketamine với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Đến khoảng 00 giờ, ngày 07/3/2023, M chỉ đạo S cầm 01 (một) túi ma túy Ketamine đến cửa hàng HSTV bán cho H1. S điều khiển xe ôtô BKS 14C-216.93 đến cửa hàng HSTV gặp và giao 01 (một) túi ma túy cho C. C thanh toán thông qua chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của M.

Lần thứ tư: Khoảng 03 giờ, ngày 07/3/2023, H1 tiếp tục gọi điện cho M hỏi 02 (hai) túi ma túy Ketamine với giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Sau đó, M chỉ đạo S cầm 02 (hai) túi ma túy Ketamine đi bán cho H1 tại khu vực gần nhà H1 thuộc tổ F, khu A, phường H, thành phố H. S đã điều khiển xe ôtô BKS 14C - 216.93 đến chỗ hẹn bán 02 (hai) túi ma túy cho H1. H1 thanh toán thông qua chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của M.

Lần thứ năm: Khoảng 23 giờ, ngày 11/3/2023, C gọi điện cho M hỏi mua 02 (hai) túi ma túy Ketamine với giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). M đồng ý và chỉ đạo S cầm 02 (hai) túi ma túy xuống sảnh chung cư R bán cho C. Sau đó S cầm 02 (hai) túi ma túy Ketamine xuống sảnh chung cư bán cho C. C thanh toán thông qua chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của M.

Đến 17 giờ 45 phút, ngày 13/3/2023, M gọi điện chỉ đạo S cầm theo 02 (hai) túi nilon chứa ma tuý để bán cho khách tại sảnh phía sau Chung cư R thuộc tổ I, khu D, phường T, thành phố H thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q phối hợp với Công an phường T, thành phố H phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại túi quần bên trái S đang mặc 02 (hai) túi nilon trong suốt, bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1, M2); 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh lắp sim số 0904208640; 01 (một) căn cước công dân mang tên Hoàng Ngọc S; 01 (một) thẻ Ngân hàng V mang tên HOANG NGOC SON; 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

2. Hành vi của Nguyễn Duy M bán trái phép chất ma túy.

- Lần thứ nhất: Khoảng 03 giờ 20 phút ngày 21/01/2023, Phùng Văn L, sinh năm 1990, trú tại tổ A, khu B, phường H, thành phố H, gọi điện cho M hỏi mua 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) ma tuý Ketamine. M đồng ý và hẹn ra gầm cầu B, gần chung cư R để nhận ma túy, L nhận ma túy và thanh toán bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của M.

- Lần thứ hai: Khoảng 03 giờ ngày 25/01/2023, L tiếp tục gọi điện cho M hỏi mua 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) ma tuý Ketamine. M đồng ý và cũng hẹn ra gầm cầu B, gần chung cư R để nhận ma túy. L thanh toán thông qua chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của M.

- Lần thứ ba: Sáng ngày 15/02/2023, C gọi điện cho M hỏi mua 01 (một) túi ma tuý Ketamine. M hẹn C đến sau sảnh chung cư R, tổ I, khu D, phường T, thành phố H để giao dịch. Sau đó, C đến chỗ hẹn. M bán cho C 01 (một) túi ma tuý Ketamine của M. C chuyển khoản cho M 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) thanh toán tiền mua ma túy.

Khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Nguyễn Duy M tại phòng A, chung cư R thuộc tổ I, khu D, phường T, thành phố H thu giữ: Thu trên mặt kệ tủ đầu giường phòng ngủ phía bên cửa sổ phòng ngủ của Nguyễn Duy M 01 túi nilon bên trong có chứa thực vật khô (kí hiệu M1); thu trong ngăn kéo kệ tủ đầu giường phòng ngủ phía bên cửa sổ phòng ngủ của M 01 (một) túi nilon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M2); thu giữ tại ngách đổ rác cạnh thang máy 01 (một) túi nilon màu đen bên trong có 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật màu đỏ, bên trong có: 01 (một) cân điện tử màu đen bạc, 01 (một) cân điện tử màu xanh đen, 02 (hai) vỏ túi nilon trong suốt. Kiểm tra và xác định nơi để phương tiện tại chung cư R phát hiện thu giữ: 01 (một) xe ôtô nhãn hiệu Ford Ranger BKS 14C-216.93.

Kết luận giám định số 321/KL-KTHS ngày 20/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật kí hiệu M1, M2 thu giữ của Hoàng Ngọc S gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng: M1: 0,826 gam; M2: 0,849 gam. Tổng khối lượng M1 đến M2 là: 1,675 gam (Một phẩy sáu bẩy năm gam).

Kết luận giám định số 322/KL-KTHS ngày 20/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật kí hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Cần sa, khối lượng: 1,678 gam (Một phẩy sáu bảy tám gam). Mẫu vật kí hiệu M2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng: 0,596 gam (Không phẩy năm chín sáu gam).

Sau khi phạm tội, Nguyễn Duy M bỏ trốn đến ngày 23/11/2023, M bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H bắt theo quyết định truy nã.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Duy M và Hoàng Ngọc S khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 315/2023/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã quyết định: tuyên bố các bị cáo Nguyễn Duy M, Hoàng Ngọc S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy M 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/11/2023.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc S 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 13/3/2023.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng; truy thu tiền thu lời bất chính; án phí hình sự sơ thẩm và báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/01/2024, cả hai bị cáo Nguyễn Duy M và Hoàng Ngọc S đều làm đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: bị cáo Hoàng Ngọc S xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Bị cáo Nguyễn Duy M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và thừa nhận bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long kết luận phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng, không oan. Bị cáo không kháng cáo về tội danh, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Nguyễn Duy M trình bày trước khi bị bắt, bị cáo đã cung cấp thông tin cho Công an phường H, thành phố H bắt quả tang đối tượng Lường Văn Đ có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, sau đó đối tượng này đã bị Công an thành phố H khởi tố bị can và đã được Công an phường H xác nhận.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Điều 348; điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng Hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Hoàng Ngọc S.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy M.

Các bị cáo không tranh luận, bị cáo M nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Duy M và Hoàng Ngọc S làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hoàng Ngọc S xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Xét thấy, việc rút kháng cáo của bị cáo là tự nguyện, đúng pháp luật nên căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Hoàng Ngọc S.

[2] Về tội danh: quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Nguyễn Duy M khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã nêu. Vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ ngày 02/01/2023 đến ngày 13/3/2023, trên địa bàn thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Duy M và Hoàng Ngọc S có hành vi nhiều lần bán trái phép chất ma túy. Trong đó: S và M trực tiếp bán trái phép ma túy 05 (năm) lần cho Trần Quốc C và Đặng Huy H1; S giúp M bán trái phép chất ma túy cho Phùng Văn L 02 (hai) lần, bán cho Trần Quốc C 01 (một) lần. Tổng số tiền thu được là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Hồi 17 giờ 45 phút, ngày 13/3/2023, tại tổ I, khu D, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, khi Hoàng Ngọc S đang mang ma túy đi bán theo sự chỉ đạo của Nguyễn Duy M thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Q phối hợp với Công an phường T, thành phố H phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 1,675 gam (một phẩy sáu bảy năm gam) ma tuý loại Ketamine. Ngoài ra, tại chỗ ở của Nguyễn Duy M và Hoàng Ngọc S thuộc phòng A2406, chung cư R thuộc tổ I, khu D, phường T, thành phố H, M và S còn có hành vi tàng trữ 0,596 gam (không phẩy năm chín sáu gam) ma tuý, loại Ketamine cũng nhằm mục đích để bán. M còn có hành vi tàng trữ 1,678 gam (Một phẩy sáu bảy tám gam) ma tuý, loại cần sa cũng nhằm mục đích để bán.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Duy M đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy M, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và tuyên xử bị cáo Nguyễn Duy M 08 (tám) năm (06) sáu tháng tù là phù hợp.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo Nguyễn Duy M có cung cấp đơn xác nhận của Công an phường H, thành phố H vì bị cáo đã có công báo tin giúp Công an phường H bắt quả tang đối tượng Lường Văn Đ có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo M khẳng định sau khi báo tin đối tượng mua bán ma túy cho Công an phường H thì bị cáo được chứng kiến việc bắt giữ và được ký vào biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Tuy nhiên tại biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường H không thể hiện việc này. Việc xác nhận của Công an phường H là chưa đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm quy định tại Điều 5 Thông tư số 28/2020 ngày 26/3/2020 và Thông tư số 129/2021 ngày 31/12/2021 (sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư số 28/2020 của Bộ C1), như chưa kèm theo các tài liệu tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của bị cáo M. Mặt khác, thẩm quyền xác nhận lập công theo quy định phải là Trưởng Công an cấp huyện, thị xã, thành phố. Do đó, những tài liệu cung cấp nêu trên đối với bị cáo Nguyễn Duy M chỉ được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 03 lần bị xử phạt tù, điều đó thể hiện bị cáo là người có ý thức chấp hành pháp luật kém, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí: do kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Duy M không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Hoàng Ngọc S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 348; điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng Hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Hoàng Ngọc S.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy M. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 315/2023/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Duy M.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy M 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/11/2023.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Nguyễn Duy M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ