vanban.org

Bản án 26/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phùng Thị Cẩm T. Bà Phùng Thị Cẩm T được ly hôn với ông Võ Thành V.

Do bà Phùng Thị Cẩm T và ông Võ Thành V không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn nên không xem xét. Về con chung: Giao cho bà Phùng Thị Cẩm T được trực tiếp nuôi con chung tên Võ Minh Thiên B, sinh ngày 11/12/2017 con chung đang sống chung và có nguyện vọng sống bà P… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phùng Thị Cẩm T tranh chấp ly hôn với Võ Thành V"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phùng Thị Cẩm T. Bà Phùng Thị Cẩm T được ly hôn với ông Võ Thành V.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15/4/2024
V/v: Tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Thị Phê

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Thành Thông

Bà Nguyễn Thị Bé Em

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Chiến Trực - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Ấm- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 28/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp "Ly hôn," theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 68/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phùng Thị Cẩm T, sinh năm 1993; Đăng ký thường trú: ấp KT, xã KTT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre. Chổ ở: Số 138B15 khu phố 1, phường PT, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Bà Phùng Thị Cẩm T có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Võ Thành V, sinh năm 1991; Đăng ký thường trú: ấp NT, xã CS, huyện MCN, tỉnh Bến Tre. Chổ ở hiện nay: Số 116A4 khu phố 2 phường PT, thành phố BT. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Phùng Thị Cẩm T trình bày:

Vào năm 2017 bà và ông Võ Thành V được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã KTT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/10/2017. Trong thời gian sống chung bà và ông Võ Thành V có 01 con chung tên Võ Minh Thiên B, sinh ngày 11/12/2017 hiện con chung đang sống chung với bà. Bà và ông Việt không có tạo lập được tài chung, về nợ chung thì không có.

Nguyên nhân ly hôn: là do trong thời gian chung sống ông, bà bất đồng quan điểm vợ chồng ngày càng mất lòng tin và không còn tiếng nói chung, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành; hiện nay bà và ông Việt không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau từ tháng 01/2023 cho đến nay. Nhận thấy ông, bà có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên bà có yêu cầu như sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Võ Thành V. Bà không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn.

+ Về con chung:Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Võ Minh Thiên B, sinh ngày 11/12/2017, do cháu Thiên B đang sống chung với bà, bà không yêu cầu ông Võ Thành V cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết

Bị đơn ông Võ Thành V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông Võ Thành V vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phùng Thị Cẩm T.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phùng Thị Cẩm T. Bà Phùng Thị Cẩm T được ly hôn với ông Võ Thành V.

Về con chung: Giao con chung tên Võ Minh Thiên B, sinh ngày 11/12/2017 cho bà Phùng Thị Cẩm T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, do bà Phùng Thị Cẩm T không yêu cầu ông Võ Thành V cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị không xem xét.

Về tài sản và nợ chung: Không có nên đề nghị không xem xét.

Về án phí tuyên theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Về thẩm quyền: Bị đơn ông Võ Thành V hiện đang sinh sống tại khu phố 2, phường PT, thành phố BT, tỉnh Bến Tre do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về tố tụng: Bà Phùng Thị Cẩm T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Võ Thành V đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng Việt vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Phùng Thị Cẩm T và ông Võ Thành V.

[4] Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà Phùng Thị Cẩm T và ông Võ Thành V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bên nào bị lừa dối hoặc bị ép buộc, cả hai có đủ điều kiện kết hôn. Việc kết hôn có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã KTT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/10/2017. Vì vậy quan hệ hôn nhân của bà Phùng Thị Cẩm T và ông Võ Thành V được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Nguyên nhân bà Phùng Thị Cẩm T xin ly hôn với ông Võ Thành V là do trong thời gian chung sống ông, bà bất đồng quan điểm vợ chồng ngày càng mất lòng tin và không còn tiếng nói chung, ông Việt không quan tâm chăm sóc cho vợ con; gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, Xét thấy: Từ tháng 01/2023 bà Phùng Thị Cẩm T và ông Võ Thành V không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Mặt khác ông V biết rõ việc bà T xin ly hôn với ông, Tòa án đã tạo điều kiện để bà Phùng Thị Cẩm T và ông Võ Thành V hòa giải hàn gắn tình cảm nhưng ông V vắng mặt không có lý do nên từ đó có căn cứ kết luận tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân giữa bà Phùng Thị Cẩm T và ông Võ Thành V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài; mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phùng Thị Cẩm T là phù hợp. Do bà Phùng Thị Cẩm T không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về con chung: bà Phùng Thị Cẩm T và ông Võ Thành V có 01 con chung tên Võ Minh Thiên B, sinh ngày 11/12/2017. Xét thấy: Từ khi bà Tú và ông V không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau thì con chung Võ Minh Thiên B do bà T trực tiếp nuôi dưỡng con chung có sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần, bà T hiện nay có công việc và thu nhập ổn định nên đủ điều kiện nuôi con chung. Do đó để không làm thay đổi môi trường sống và sinh hoạt hằng ngày cần giao con chung cho bà T được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do bà bà Phùng Thị Cẩm T không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Xét phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Bà Phùng Thị Cẩm T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[7 ] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, 238, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phùng Thị Cẩm T. Bà Phùng Thị Cẩm T được ly hôn với ông Võ Thành V.

Do bà Phùng Thị Cẩm T và ông Võ Thành V không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn nên không xem xét.

2. Về con chung: Giao cho bà Phùng Thị Cẩm T được trực tiếp nuôi con chung tên Võ Minh Thiên B, sinh ngày 11/12/2017 con chung đang sống chung và có nguyện vọng sống bà Phùng Thị Cẩm T. Do bà Phùng Thị Cẩm T không yêu cầu ông Võ Thành V cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức theo quy định của pháp luật Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3.Về tài sản chung: Không có nên xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Bà Phùng Thị Cẩm T phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000971 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre và đã nộp xong.

6. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ