- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lương Thị T và anh Vy Văn H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST Ngày 15- 4- 2024 V/v: Yêu cầu không công nhận vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Hưng và Ông Thò Bá Tểnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lô Quốc Ất - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lô Văn Tim - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 55/2024/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Lương Thị T, sinh năm 1973. (Có đơn xét xử vắng mặt)
Trú tại: Bản K, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An.
2. Bị đơn: Anh Vy Văn H, sinh năm 1969. (Có đơn xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Bản K, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 3 năm 2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lương Thị T trình bày:
Quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị T và anh Vy Văn H tìm hiểu nhau được một thời gian thì tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương vào năm 1991. Chị T và anh H đã được chính quyền địa phương vận động để đi đăng ký kết hôn nhưng do bản thân hiểu biết pháp luật còn hạn chế, sống ở vùng sâu vùng xa nên hai vợ chồng không coi trọng việc đăng ký kết hôn. Sau khi sống chung chị T và anh H sống rất hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh từ năm 2017. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do, chị T và anh H tính cách không hợp nhau, trong cuộc sống phát sinh quá nhiều mâu thuẫn dẫn đến cãi nhau thường xuyên, xúc phạm nhau thậm tệ, anh H không quan tâm chăm lo đến gia đình, thường xuyên uống rượu say đuổi đánh chị T và các con ra khỏi nhà, từ năm 2017 chị T đưa các con đi ra ở riêng không chung sống với anh H. Nay chị T không còn tình cảm với anh H, nên yêu cầu Tòa án không công nhận chị T và anh H là vợ chồng.
- Về con chung: Chị T và anh H có 02 con chung tên cháu là Vi Thị C, sinh năm 1993 và cháu Vy Văn Ấ, sinh năm 1995, các cháu đã trưởng thành không bị hạn chế hay mất về năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời anh Vy Văn H trình bày:
Quan hệ hôn nhân: Anh H và chị Lương Thị T tìm hiểu nhau được một thời gian thì được gia đình hai bên nội ngoại tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương vào năm 1991. Trong quá trình chung sống với nhau thì anh H và chị T được chính quyền địa phương vận động đăng ký kết hôn, nhưng anh H và chị T không đi đăng ký kết hôn. Sau khi sống chung anh H và chị T sống rất hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh từ năm 2017. Nguyên nhân là do, anh H và chị T tính cách không hợp nhau, thường xuyên cãi vã nhau, cuộc sống gia đình khó khăn nên bản thân hay bức xúc không kiềm chế được, xúc phạm nhau thậm tệ, năm 2017 chị T tự ý ra ở riêng, anh H và chị T không còn sống chung với nhau từ đó cho đến nay. Nay anh H không còn tình cảm với chị T, đề nghị Tòa án không công nhận anh H và chị T là vợ chồng.
- Con chung: anh H và chị T có 02 con chung tên cháu là Vi Thị C, sinh năm 1993 và cháu Vy Văn Ấ, sinh năm 1995 các cháu đã trưởng thành không bị hạn chế hay mất về năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kết quả xác minh tại địa phương: Chị Lương Thị T và anh Vy Văn H không đăng ký kết hôn. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng:
Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn, bị đơn: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị T cụ thể như sau: Quan hệ hôn nhân không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lương Thị T và anh Vy Văn H; Về con chung cháu Vi Thị C, sinh năm 1993 và cháu Vy Văn Ấ, sinh năm 1995 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết; Về cấp dưỡng: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H; Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Anh Vy Văn H có hộ khẩu thường trú tại bản K, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An. Căn cứ Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Lương Thị T và anh Vy Văn H thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Tình trạng hôn nhân: Chị T và anh H tự tìm hiểu, sau đó chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 1991 nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Xét thấy, mặc dù đủ điều kiện kết hôn theo quy định nhưng chị T và anh H không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự và tài liệu do tòa án thu thập được có đủ căn cứ xác định chị Lương Thị T và anh Vy Văn H chung sống với nhau như vợ chồng trên cơ sở tự nguyện từ năm 1991. Tại thời điểm chung sống chị T và anh H đều đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu hai người chung sống bình thường, hạnh phúc nhưng đến năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do chị T và anh H quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau thậm tệ. Hiện nay chị T và anh H đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai về mọi mặt nên căn cứ điều 9, điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cáo và Bộ tư pháp ngày 06/01/2016 về Hướng dẫn thi hành một số quy định Luật hôn nhân và gia đình thì không xác định chị Lương Thị T và anh Vy Văn H là vợ chồng, việc chị Lương Thị T yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh Vy Văn H là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Về con chung: anh H và chị T có 02 con chung tên cháu là Vi Thị C, sinh năm 1993 và cháu Vy Văn Ấ, sinh năm 1995, cháu đã trưởng thành không bị hạn chế hay mất về năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án giải. Xét thấy nguyện vọng của các bên là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, cũng như quy định của pháp luật nên cần chấp nhận nguyện vọng của các bên là phù hợp
Về tài sản, nợ chung: Chị Lương Thị T và anh Vy Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Lương Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 53, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q; khoản 4 điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cáo và Bộ tư pháp.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lương Thị T và anh Vy Văn H.
2. Về con chung:
- Các cháu là Vi Thị C, sinh năm 1993 và cháu Vy Văn Ấ, sinh năm 1995 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Anh H có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở;
- Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H.
3. Tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí: Chị Lương Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã theo biên lai số 0007343 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Nghệ An;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- VKSND H.Tương Dương;
- Các đương sự;
- Chi cục THADS H.Tương Dương;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Hoàng Văn Cường
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Hưng Thò Bá Tểnh
Hoàng Văn Cường
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND H.Tương Dương; - Các đương sự; - Chi cục THADS H.Tương Dương; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Cường |