- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "An - Nam"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hầu Thị Thúy A.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST Ngày 24 tháng 9 năm 2024 V/v: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ,TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Khương Đặng Khánh Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Vĩnh
Ông Vũ Mạnh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 56/2024/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hầu Thị Thúy A, sinh năm 2003 (có mặt); Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã H, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Thôn L, xã Ph, huyện S, tỉnh Tuyên Quang;
Bị đơn: Anh Đỗ Duy N, sinh năm 2000 (vắng mặt); Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hầu Thị Thúy A trình bày: Chị kết hôn với anh Đỗ Duy N ngày 05/10/2021 và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và không bị ai lừa dối, ép buộc kết hôn. Sau khi kết hôn chị về chung sống cùng gia đình anh N ngay. Quá trình chung sống vợ chồng đến tháng 7 năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm về cuộc sống, anh N thường xuyên uống rượu, nghe người ngoài xúi giục về nhà vô cớ đánh đập chị dẫn đến tình cảm vợ chồng không hạnh phúc. Chị đã khuyên bảo anh N nhiều lần nhưng anh N không thay đổi, vợ chồng thường xuyên cãi chửi và đánh nhau. Đến tháng 01 năm 2024 mâu thuẫn trầm trọng anh N đánh đuổi chị ra khỏi nhà nên chị bỏ về nhà bố, mẹ đẻ tại thôn L, xã Ph, huyện S ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Khi vợ chồng sống ly thân hai bên không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn, cải thiện tình cảm mà anh N còn liên tục nhắn tin với những lời xúc phạm. Nay chị A xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn anh N.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đỗ Duy Kh, sinh ngày 02/10/2023 và hiện nay con đang ở cùng chị A. Ly hôn chị đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Kh và chị không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị đang kinh doanh bán hàng tạp hóa với mức thu nhập bình quân 5.000.000đông/tháng.
Về tài sản và các nghĩa vụ dân sự: Chị A không đề nghị Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Đỗ Duy N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh N không đến Tòa án làm việc; không đến tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ; phiên hòa giải. Anh N không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện đề nghị giải quyết ly hôn của chị A. Tại phiên tòa hôm nay anh N vắng mặt mặc dù đã được tống đạt, niêm yết các giấy báo hợp lệ theo quy định của pháp luật. Kết quả xác minh tại địa phương và gia đình xác định anh N biết việc Tòa án đang tiến hành giải quyết vụ án ly hôn giữa chị A và anh N.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành làm việc với trưởng thôn, xác minh tại UBND xã H đều xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị A và anh N là trầm trọng, vợ chồng đã ly thân. Hiện anh N đi làm ăn và thường xuyên có mặt tại địa phương. Anh N có biết việc chị A xin ly hôn nhưng từ chối đến Tòa án làm việc. Ông Th là người nhận thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập cũng như các văn bản tố tụng khác của Tòa án thay cho anh N và đã thông báo cho anh N được biết về nội dung các văn bản ông đã nhận thay anh N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng thì nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật như vắng mặt không có lý do từ khi Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hầu Thị Thúy A được ly hôn anh Đỗ Duy N. Về nuôi con chung: Đề nghị giao cho chị A được trực tiếp nuôi dưỡng con là cháu Kh. Hiện nay con đang ở cùng chị A. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Nếu sau này anh N đề nghị giải quyết về người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con thì sẽ giải quyết theo quy định pháp luật. Về tài sản và các nghĩa vụ dân sự: không đề nghị nên không xem xét giải quyết.Về án phí: Chị A phải chịu nộp theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là anh Đỗ Duy N đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh Nam không đến Tòa án làm việc, cũng không nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp các tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Xét thấy bị đơn là anh Đỗ Duy N vắng mặt tất cả các lần Tòa án thông báo, triệu tập là vi phạm nghĩa vụ của đương sự, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa anh Nam đã được triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh N.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hầu Thị Thúy A và anh Đỗ Duy N đăng ký kết hôn ngày 05 tháng 10 năm 2021 tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Sông Lô trên cơ sở tự nguyện là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, đến tháng 01 năm 2024 mâu thuẫn trầm trọng nên chị A bỏ về nhà bố, mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân và không quan tâm chăm sóc nhau từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, anh N ham chơi không tập trung làm ăn phát triển kinh tế gia đình nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không còn tình cảm, hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2024 đến nay nhưng hai bên đều không có biện pháp nào để cải thiện tình cảm, khắc phục mâu thuẫn. Xác minh UBND xã H thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và vợ chồng đã sống ly thân. Xét tình trạng hôn nhân giữa chị A và anh N mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được, việc chị A xin ly hôn anh N là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Anh N vắng mặt không đến Tòa án làm việc thể hiện anh N cố tình gây khó khăn cho chị A và không có mong muốn để vợ chồng về đoàn tụ. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hầu Thị Thúy A được ly hôn anh Đỗ Duy N.
Về nuôi con chung: Chị A và anh N có 01 con chung là Đỗ Duy Kh, sinh ngày 02/10/2023 và hiện nay cháu Kh đang ở cùng chị A. Ly hôn chị A đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Kh. Xét thấy, hiện nay cháu Kh tuổi còn nhỏ nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Do vậy để tránh sự xáo trộn trong sinh hoạt và ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của con, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con của chị A là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Hiện nay chị A đang kinh doanh bán hàng tạp hóa có thu nhập 5.000.000 đồng/tháng và xác định đủ điều kiện kinh tế chăm sóc con nên cần chấp nhận sự tự nguyện của chị A về việc không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con. Sau này nếu anh N có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Về tài sản và các nghĩa vụ dân sự: Chị A không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Hầu Thị Thúy A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấn nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hầu Thị Thúy A.
1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Hầu Thị Thúy A được ly hôn anh Đỗ Duy N.
2. Về nuôi con: Chị Hầu Thị Thúy A được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con là Đỗ Duy Kh, sinh ngày 02/10/2023. Hiện nay cháu Kh đang ở cùng chị A. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị A.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
3.Về án phí: Chị Hầu Thị Thúy A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0000918 ngày 21/5/2024 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Lô. Chị A đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Sông Lô; - Chi cục THADS huyện Sông Lô; - UBND xã H; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Khương Đặng Khánh Hằng Khương Đặng Khánh Hằng |