vanban.org

Bản án 26/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 17/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời tù tính từ ngày 07/9/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Ngọc N - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HSST
Ngày 17/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thái;

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thu Thảo;

Ông Nguyễn Ngọc Anh;

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thanh Hải;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:

Hoàng Ngọc N, sinh năm 1986, tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: tổ 3, khu phố 2, thị trấn V, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn M, sinh năm 1957 và bà Phạm Thị H (đã chết); gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Có 02 con, con thứ nhất sinh năm 2008 (chung sống như vợ chồng với Đoàn Thị Thanh L, sinh năm 1990), con thứ hai sinh năm 2018 (chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1995); Tiền án: Ngày 25/10/2021, bị TAND huyện Vĩnh Cửu xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: không; Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Cửu - Bị cáo có mặt.

Người bị hại: Anh Hồ Văn Q - sinh năm 1997 - vắng mặt;

Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Hồ Văn Qu, sinh năm 1972 - có mặt;

Nơi cư trú: khu phố 5, thị trấn V, huyện V C, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trần Như N, sinh năm 1982 - vắng mặt;

Địa chỉ: khu phố 5, thị trấn V, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

2. Chị Phạm Thị Như Nc, sinh năm 1989 - vắng mặt;

Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/5/2021, Hoàng Ngọc N và Đinh Mạnh L - sinh năm 1988 trú tại khu phố 1, thị trấn V, huyện C, tỉnh Đồng Nai rủ nhau đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. L mượn xe mô tô hiệu Yamaha Novo màu đen, biển số 39F2-6832 của anh Trần Như N sinh năm 1982 (anh rể L) chở N đến khu đất sát Nhà máy thủy điện Trị An phát hiện vườn rau nhà ông Bùi Duy B - sinh năm 1960, ngụ khu phố 2, thị trấn V được rào bằng khung sắt. N vào tháo 01 thanh sắt được hàn nối bởi hai thanh sắt (giống như nối khung nhà vòm) dài 6,5m, ngang 20cm, nặng 27kg vác lên vai ngồi sau xe L chở đi tìm nơi tiêu thụ.

L điều khiển xe mô tô chở N vác thanh sắt trên vai lưu thông trên đường ĐT 762 theo hướng chợ khu phố 1, thị trấn V để tìm nơi chai bán thanh sắt. Khi đến trước Tiệm ve chai Thảo Phương tại km16+500, ĐT 762 thuộc khu phố 1, thị trấn V, L dừng xe sát lề đường bên phải và cách lề đường khoảng 50cm, N ngồi sau vác thanh sắt (vị trí vai N vác ở giữa thanh sắt) đứng dậy lùi về sau khỏi yên xe, thanh sắt trên vai N có chiều hướng song song với lề đường. N vác thanh sắt quay người về bên phải, nên phần đuôi thanh sắt quay ra đường cách vị trí N đứng khoảng 03m. Lúc này anh Hồ Văn Q - sinh năm 1997, ngụ tại khu phố 5, thị trấn V điều khiển xe mô tô biển số 60B8-499.85 lưu thông từ phía sau cùng chiều hướng xe L (đang dừng bên lề đường) chạy đến không tránh kịp đã va chạm vào đuôi thanh sắt do N vác trên vai gây tai nạn, làm anh Q cùng xe mô tô ngã xuống đường, thanh sắt N vác trên vai rơi xuống đường.

Thấy anh Q nằm bất động và chảy nhiều máu, N và L phụ khiêng anh Q lên xe anh Hữu Gà (không rõ họ tên, địa chỉ) là người quen của N nhờ chở đi cấp cứu. Sau đó N dắt xe anh Q vào gửi nhà dân rồi cùng L đi về nhà. Khoảng 01 tuần sau, N bị bắt đi thi hành án về tội “Trộm cắp tài sản”. Qua kết quả trích xuất dữ liệu camera, Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với Hoàng Ngọc N, Đinh Mạnh L và các đối tượng đã khai nhận sự việc như trên.

 Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 20 giờ 45 phút ngày 15/5/2021 xác định:

- Vị trí xảy ra tai nạn là đường hai chiều, mặt đường bê tông rộng 6,00m, thẳng phẳng, có vạch phân tuyến, hiện trường đã bị xáo trộn. Lấy trụ điện 36A, trụ đèn 13 làm điểm mốc, lấy mép đường bên phải theo hướng ngã ba Chi nhánh điện về ngã tư Tân Lập làm chuẩn để đo vẽ hiện trường.

Vết cày trên mặt lề đất ngoài mặt đường nhựa dài 1,80m theo hướng ngã tư Tân Lập về ngã ba Chi nhánh điện, điểm đầu vết cày cách mép lề đường bên phải 1,90m; điểm cuối vết cày tiếp giáp với đầu cây gác chân sau bên trái xe mô tô biển số 60B8-499.85.

- Xe mô tô biển số 60B8-499.85 ngã sang trái nằm trên mặt đường lề đất, đầu xe hướng về ngã ba Chi nhánh điện; đuôi xe hướng về ngã tư Tân Lập. Trục bánh trước, bánh sau xe mô tô cách mép lề đường bên phải là 3,70m và 2,80m.

- Vị trí xe mô tô biển số 39F2-6832 dừng bên trái theo hướng ngã ba Chi nhánh điện về ngã tư Tân Lập.

 Tại Biên bản trích xuất camera ghi nhận: Hồi 20 giờ 10 phút ngày 15/5/2021 (theo thời gian của camera) phát hiện có 02 người điều khiển xe mô tô không rõ biển số lưu thông từ hướng ngã tư Tân Lập, huyện Trảng Bom về thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu. Khi đến KM 16+500 đường ĐT 762 thuộc khu phố 1, thị trấn Vĩnh An, 02 người dừng xe vào lề đường bên phải theo hướng đi và người ngồi sau vác một thanh kim loại xuống xe, thanh kim loại hướng phần đuôi ra đường thì liền lúc này có một người điều khiển xe mô tô đi từ phía sau cùng chiều đến va vào thanh kim loại và người này ngã xuống đường. Qua quan sát đoạn camera trên, Hoàng Ngọc N xác nhận người gây tại nạn cho anh Q chính là N.

 Tại biên bản khám xe mô tô biển số 60B8-499.85 hồi 15 giờ ngày 23/6/2022, xác định:

- Vết xước nhựa kích thước 9cm x 3cm hướng từ trước ra sau mặt ngoài bên trái yếm chắn gió màu trắng.

- Vết trầy xước nhựa có dính chất liệu màu đỏ kích thước 9cm x 4cm hướng từ trước ra sau mặt trên chắn bùn phía trước.

 Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0874/TgT/2022 ngày 18 tháng 8 năm 2022 của Giám định viên Trung tâm pháp y Đồng Nai xác định thương tích của anh Hồ Văn Q như sau:

- Sẹo mờ vùng trán phải kích thước 02x01cm. Tỷ lệ 06%; Sẹo dưới cằm kích thước 07x0,3cm. Tỷ lệ 06%; Sẹo cánh tay phải (vùng khuỷu tay) kích thước 05x01cm. Tỷ lệ 02%;

- Mở nội khí quản 2,5x1,5cm. Tỷ lệ 04%.

- Sẹo vùng cùng cụt kích thước 07x05cm. Tỷ lệ 03%; Sẹo gót chân phải kích thước 3,5x0,5cm. Tỷ lệ 02%.

- Tổn thương não vùng thái dương phải kích thước 1,3x2,2cm; trán phải kích thước 1,2x1,4cm và trán trái kích thước 1,1x1,3cm. Tỷ lệ 26%.

- Tổn thương xuất huyết dưới nhện đã điều trị không còn hình ảnh xuất huyết. Tỷ lệ 08%; Tụ máu dưới màng cứng đã điều trị hiện không còn hình ảnh máu tụ. Tỷ lệ 08%.

- Tổn thương não gây di chứng liệt nhẹ tứ chi. Tỷ lệ 61%.

- Tổn thương dập phổi hai bên hiện để lại di chứng xẹp nhu mô phối dưới màng phổi vùng thấp đáy phối hai bên, dày dính màng phổi phải, tràn dịch màng phổi phải lượng ít. Tỷ lệ 30%.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Hồ Văn Q là 86% (Tám mươi sáu phần trăm).

 Tại kết luận định giá tài sản số 47/KL-ĐGTS ngày 06 tháng 7 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Vĩnh Cửu xác định: Xe mô tô Vison biển số 60B8-499.85 bị trầy xước hư hỏng, với tổng thiệt hại 600.000 đồng.

- Tại kết luận định giá tài sản số 39/KL-ĐGTS ngày 08 tháng 6 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Vĩnh Cửu xác định: 02 thanh sắt được hàn nối với nhau, chiều dài 6,5m, ngang 20cm, cân nặng 27kg trị giá 216.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

- Xe mô tô Vision biển số 60B8-499.85 do chị Phạm Thị Như N - sinh năm 1989, ngụ tại ấp Lợi Hà, xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu. Chị N cho cháu gái là Hoàng Thị Tuyết T - sinh năm 1999 mượn sử dụng. Ngày 15/5/2021, chị T cho anh Q mượn xe mô tô về nhà thì xảy ra tai nạn. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả xe mô tô biển số 60B8-499.85 cho chị Phạm Thị Như N.

- Xe mô tô Yamaha Novo màu đen, biển số 39F2-6832 do chị Nguyễn Lệ Th

- sinh năm 1983, ngụ tại 77/57 khu phố 2, phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa đứng tên chủ sở hữu. Năm 2017, chị Th bán xe mô tô cho người khác (hiện không xác định được lai lịch). Cuối năm 2019, anh Trần Như N - sinh năm 1982, ngụ tại khu phố 5, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu mua lại và cho em vợ là Đinh Mạnh L mượn để đi làm. Ngày 15/5/2021, Linh sử dụng xe mô tô cùng N trộm cắp tài sản, anh N không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã giao trả xe mô tô trên cho anh Trần Như N.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả cho ông Bùi Duy B 01 thanh sắt được hàn nối dài 6,5m, ngang 20cm, cân nặng 27kg.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Hồ Văn Qu đại diện theo pháp luật của bị hại yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích 500.000.000 đồng; yêu cầu bồi thường hư hỏng xe mô tô Vision là 600.000 đồng, bị cáo chưa bồi thường.

 Tại Bản Cáo trạng số 28/CT-VKSVC ngày 21 tháng 02 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố bị cáo Hoàng Ngọc N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau:

+ Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

+ Tình tiết tăng nặng: Bị cáo tái phạm, theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Hoàng Ngọc N mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

 Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì, do đó các hành vi và quyết định đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay là thống nhất, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ.

Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 15/5/2021 tại KM 16+500 đường ĐT762 thuộc khu phố 1, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, Hoàng Ngọc N đi bộ vác vật cồng kềnh là thanh sắt dài 6,5m, ngang 20cm, nặng 27kg quay ngang không đảm bảo an toàn để đuôi thanh sắt va chạm với anh Hồ Văn Q đang điều khiển xe mô tô biển số 60B8-499.85 lưu thông cùng chiều gây tai nạn giao thông. Hậu quả anh Q bị thương tích tỷ lệ 86%. Hành vi của bị cáo vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật giao thông đường bộ nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, xét thấy Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố bị cáo Hoàng Ngọc N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với Đinh Mạnh L, có hành vi điều khiển xe môtô chở N trộm cắp tài sản và tìm nơi tiêu thụ. Tuy nhiên, tại thời điểm N vác thanh sắt gây tai nạn giao thông, thì xe L đã dừng lại và khi N xuống xe L đã nhắc N coi chừng có xe phía sau. Hành vi N vác thanh sắt đi bộ gây tai nạn giao thông không liên quan đến L, vì vậy không có căn cứ xử lý L.

Ngoài ra, ngày 15/5/2021 Hoàng Ngọc N và Đinh Mạnh L có hành vi trộm cắp tài sản, tuy nhiên giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, N và L chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, Công an huyện Vĩnh Cửu ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp quy định pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội trong trường hợp tái phạm, theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng của người tham gia giao thông đang lưu thông trên đường. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo chấp nhận bồi thường cho bị hại số tiền 500.000.000 đồng theo yêu cầu của đại diện hợp pháp bị hại, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận trên.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 136; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời tù tính từ ngày 07/9/2022.

3. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 590 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự

Buộc bị cáo Hoàng Ngọc N phải bồi thường cho anh Hồ Văn Qu số tiền 500.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 24.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ