vanban.org

Bản án 26/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 14/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày bắt đi thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/10/2022 đến ngày 13/10/2022. Xử lý vật chứng:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc T- “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HSST
Ngày: 14/3/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hồng Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Ông Nguyễn Quý Ánh.

2. Ông Nguyễn Thanh Phương.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 07/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HS ngày 28/02/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN NGỌC T; Tên gọi khác: Không;

Sinh năm: 1999, tại Bình Thuận; Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: Thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận;

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Làm nông;

Trình độ học vấn: 7/12;

Tiền án, tiền sự: Không;

Con ông: Nguyễn Văn T1 – 1974 và bà NLQ 2 – 1974;

Gia đình bị cáo có 03 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2007, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình;

Vợ: chưa có.

Tất cả có hộ khẩu thường trú tại thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Bị cáo bị bắt giữ ngày 04/10/2022 đến ngày 13/10/2022 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông NLQ 1, sinh năm: 1994. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn F, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

2/ Bà NLQ 2, sinh năm 1974. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng: Ông NLC, sinh năm: 1993. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Q, xã W, thành phố R, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Ngọc T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 04/10/2022, Nguyễn Ngọc T đến nhà NLQ 1, sinh năm 1994 (trú thôn F, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận) nhậu, tại đây còn có NLC, sinh năm 1993 (trú thôn Q, xã W, thành phố R, tỉnh Bình Thuận). Trong lúc T, NLQ 1 và NLC đang nhậu thì có Trần Thanh M (tên gọi khác Bi), sinh năm 1989 (trú thôn I, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận) đến chơi và cùng ngồi nhậu. Trong quá trình nhậu thì NLQ 1 hỏi M để xin ma tuý sử dụng thì M nói “có chơi thì tý nữa xuống nhà lấy”. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì M nghỉ nhậu và đi về T thấy M đi về nên T ra lấy xe môtô biển kiểm soát 86B4 - 419.11 hiệu Winner điều khiển đi theo M để xin ma tuý, khi đến nhà M T được một người phụ nữ tên Hiếu (hiện chưa xác định rõ nhân thân lai lịch) đưa cho T 01 gói nylon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ma tuý đá). Sau đó, T cất gói nylon (có chứa ma tuý) trên vào trong túi quần phía trước bên trái rồi điều khiển xe đi về, khi T điều khiển xe về đến gần vựa thanh long Lê Mơ (thuộc thôn F, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận) thì bị lực lượng Công an đang tuần tra kiểm soát phát hiện T có nhiều nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước bên trái của T phát hiện 01 gói nylon không màu được hàn kín một đầu, một đầu có khoá kéo màu xanh bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ma túy đá), đồng thời tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang.

* Tang vật tạm giữ:

+ 01 gói nylon không màu kích thước (2,5 x 1,8)cm, được hàn kín một đầu, một đầu có khoá kéo màu xanh, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng;

+ 01 xe máy hiệu Winner biển kiểm soát 86B4 - 419.11 có số máy KC26E1114492, số khung 2606GY232858.

Tại bản kết luận giám định số: 1070/KLGĐ-PC09 ngày 11/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

+ 01 gói ny lon không màu, được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu xanh, kích thước (2,5x1,8)cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu Mẫu M) gửi giám định là Methamphetamine có khối lượng 0,2707 gam.

* Về xử lý vật chứng: 01 gói ny lon không màu, được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu xanh, kích thước (2,5 x 1,8)cm; 0,2019 gam (Methamphetamine) hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1070 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, từ kho vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.

Đối với xe mô tô 01 xe máy hiệu Winner biển kiểm soát 86B4 - 419.11 có số máy KC26E1114492, số khung 2606GY232858, quá trình điều tra đã xác định là tài sản của bà NLQ 2 cho T mượn đi công chuyện nên ngày 06/01/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng cách trả lại cho chủ sở hữu là bà NLQ 2.

- Đối với đối tượng tên Trần Thanh M (Bi) (theo lời khai của T là người cho T gói ma tuý). Tuy nhiên quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H đã tiến hành xác minh tại địa phương nhưng hiện đối tượng M (Bi) không có mặt tại địa phương nên không tiến hành làm việc được. Do đó, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

- Đối với NLQ 1 quá trình điều tra đã xác định NLQ 1 xin ma tuý về để sử dụng, chứ không xin ma tuý cho T, mà T tự đi xin về để sử dụng nên NLQ 1 không đồng phạm với vai trò giúp sức.

Tại Bản cáo trạng số: 11/CT-VKSHTN-HS ngày 02/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận thực hành quyền công tố phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và Điều 38 Bộ luật hình sự;

Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 12 đến 18 tháng tù.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon không màu, được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu xanh, kích thước (2,5 x 1,8)cm; 0,2019gam (Methamphetamine) hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1070 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.

(Hiện trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng vào ngày 13/3/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H).

Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Kiểm sát viên; đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận nhưng xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Tuy nhiên những người này đã có lời khai đầy đủ tại cơ quan điều tra (Biên bản ghi lời khai, bản tự khai) nên việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Ngọc T có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác đủ cơ sở để chứng minh: Bị cáo Nguyễn Ngọc T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vào khoảng 16 giờ 25 phút, ngày 04/10/2022 tại thôn F, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận bị cáo Nguyễn Ngọc T có hành vi tàng trữ trái phép 0,2707 gam Methamphetamine thì bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn huyện, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo là lao động chính của gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Căn cứ vào tính chất vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, bị cáo vi phạm tội cố ý do đó cần phải xét xử bằng bản án nghiêm khắc, buộc phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 gói nylon không màu, được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu xanh, kích thước (2,5 x 1,8)cm; 0,2019gam (Methamphetamine) hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1070 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. Xét thấy đây là vật chứng của vụ án, là vật cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

(Hiện trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng vào ngày 13/3/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H và Chi cục thi hành án dân sự huyện H).

Đối với 01 xe mô tô hiệu Winner biển kiểm soát 86B4 - 419.11 có số máy KC26E1114492, số khung 2606GY232858 thu giữ lúc bắt giữ Nguyễn Ngọc T, quá trình điều tra xác định xe mô tô này là của bà NLQ 2 (mẹ của bị cáo) cho bị cáo mượn đi công chuyện không liên quan đến việc tàng trữ ma túy của Nguyễn Ngọc T, do đó ngày 06/01/2023 Cơ quan điều tra – Công an huyện H đã trả lại cho bà NLQ 2. Xét thấy đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với đối tượng tên Trần Thanh M (Bi) (theo lời khai của bị cáo T là người cho T gói ma tuý). Tuy nhiên quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H đã tiến hành xác minh tại địa phương nhưng hiện đối tượng M (Bi) không có mặt tại địa phương nên không tiến hành làm việc được. Do đó, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với NLQ 1 quá trình điều tra đã xác định NLQ 1 xin ma tuý về để sử dụng, chứ không xin ma tuý cho bị cáo T mà bị cáo tự đi xin về để sử dụng nên NLQ 1 không đồng phạm với vai trò giúp sức là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày bắt đi thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/10/2022 đến ngày 13/10/2022.

2. Xử lý vật chứng:

Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon không màu, được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu xanh, kích thước (2,5 x 1,8)cm; 0,2019gam (Methamphetamine) hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1070 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.

(Hiện trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng vào ngày 13/3/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H và Chi cục thi hành án dân sự huyện H).

3. Án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/3/2023). Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ