vanban.org

Bản án 26/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sông Công, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 21/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Trần Thanh B 24 (hai mƣơi bốn) tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Bình - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Trần Thanh B 24 (hai mƣơi bốn) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HS-ST
Ngày 21- 4 -2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Quốc Hưng và bà Nguyễn Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2023 tại Nhà văn hóa Tổ dân phố Pha, phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thanh B; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 11 tháng 12 năm 1982; Nơi thường trú: Xóm Tam T, xã H, huyện Đ, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 07/12; Dân tộc: Ngái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn B và bà: Lê Thị C; có vợ: Ngô Thị H; Sinh năm: 1983; Có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm: 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 66/2013/HSST ngày 27/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 26/4/2015; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam bị tạm Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên từ ngày 02/01/2023 đến nay; có mặt.

- Người chứng kiến:

+ Anh Đàm Đức G, sinh năm 1983; Trú tại: Xóm Tân T, xã Bình S thành phố S, tỉnh T; vắng mặt.

+ Ông Vũ Văn T, sinh năm 1961; Trú tại: Xóm B, xã B, thành phố S, tỉnh T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 30 phút ngày 02/01/2023, Công an xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đang tuần tra kiểm soát tại trên địa bàn xóm Tân Tiến, xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyênthì phát hiện 01 một người đàn ông có biểu hiện biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nênđã tiến hành tiếp cận để kiểm tra thì người đàn ông chấp hành và khai nhận họ tên là Trần Thanh B đồng thời tự giác lấy từ túi áo ngực bên trái phía trước đang mặc ra 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác và thừa nhận là ma túy, mua về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng là 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng và chuyển hồ sơ vụ án cùng vật chứng nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên để giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày 02/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành mở gói niêm phong, cân toàn bộ số chất bột màu trắng thu giữ củaTrần Thanh B có khối lượng là 0,128 gam và lấy mẫu vật gửi giám định theo quy định (phong bì ký hiệu A1).

Tại bản kết luận giám định số 182/KL-KTHS ngày 10/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Mẫu vật gửi giám định trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng là 0,128 gam.

Quá trình điều tra làm rõ:Trần Thanh Blà người nghiện ma túy, khoảng 15 giờ 30 phút ngày 02/01/2023, Bình đi bộ từ nhà ở xóm Tam Thái, xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ rồi bắt xe bus đến khu vực cầu Gia Bẩy thuộc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyênmục đích để mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Đến nơi, Bìnhgặp một người phụ nữ tên Oanh (Bình không rõ lai lịch và địa chỉ) đứng ở rìa đường nên hỏi mua 100.000đồng tiền ma túy. Người phụ nữ tên Oanh đồng ý và nhận tiền của Bình rồi đưa lại cho Bình 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng, Bình nhận gói ma túy cất vào túi áo ngực bên trái phía trước đang mặc rồi tìm nơi để sử dụng. Lúc này, có một người đàn ông tên Cường điều khiển xe mô tô đi đến hỏi Bình “có hàng chưa”, Bình hiểu ý có ma túy chưa nên nói “có rồi”, Cường nói “đi chơi không” thì Bình đồng ý. Sau đó, Cường điều khiển xe mô tô chở Bình đi về khu vực xóm Tân Tiến, xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, Bình nói với Cường tìm chỗ mua xi lanh để sử dụng ma túy thì Cường dừng lại ở trước cửa hiệu thuốc để Bình vào mua xi lanh, Cường đứng ở ngoài lề đường đợi. Khi Bình đang mua xi lanh thì bị Tổ công tác Công an xã Bình Sơn phát hiện và bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng nêu trên

Vật chứng vụ án: 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong chứa 0,121 gam ma túy còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong là vỏ phong bì niêm phong A và vỏ túi nilon. Hiện đang được bảo quản theo quy định theo đúng quy trình quản lý vật chứng.

Tại bản cáo trạng số 29/ CT-VKS ngày 27/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trần Thanh B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy: bì niêm phong ký hiệu A1, chứa 0,121 gam ma túy còn lại sau giám định; bì niêm phong ký hiệu A2, chứa vỏ phong bì niêm phong A và vỏ túi nilon. Về án phí: áp dụng Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không oan, đúng người, đúng tội.

Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình và vô cùng ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Hồi 16 giờ 30 phút giờ ngày 02/01/2023, tại xóm Tân Tiến, xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, Trần Thanh Btàng trữ trái phép 0,128 gam ma túy, loại Heroine, để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã Bình Sơn, thành phố Sông Công phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Nội dung điều luật như sau:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine , …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, làm mất trật tự trị an tại địa phương, góp phần làm gia tăng các tệ nạn liên quan đến ma túy, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân năm 2013 bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, hiểu rõ về tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình, xã hội nhưng lối sống buông thả, đã vướng vào tệ nạn ma túy để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Bị cáo đã từng bị xét xử về tội Tàng trữ trái pháp chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo nói riêng đồng thời góp phần ngăn ngừa, đấu tranh đối với tội phạm về ma túy nói chung. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản, thu nhập. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng và đồ vật liên quan đến vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định cần tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đối với người phụ nữ tên Oanh bán ma túy cho Bình tại khu vực cầu Gia Bẩy thuộc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên nhưng Bình không biết nhân thân lai lịch do đó không đủ cơ sở để điều tra xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Trần Thanh B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Xử phạt: Trần Thanh B 24 (hai mƣơi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2023.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy:

- bì niêm phong ký hiệu A1 chứa 0,121 gam mẫu A1và vỏ bao gói mẫu A1;

- bì niêm phong ký hiệu A2 chứa vỏ phong bì niêm phong ký hiệu A và vỏ túi nilon.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/3/2023 giữa Công an thành phố Sông Công và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.

Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ