- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Đức G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HS-ST Ngày 11/01/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tạ Văn Tư
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Trung Xuân
2. Bà Hoàng Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lộc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Đỗ Mai Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 01 năm 2023, Tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2022/HSST, ngày 26 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Dƣơng Đức G sinh ngày 30/7/1991; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn N, xã V, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Văn P và bà Nguyễn Thị H; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/5/2010, UBND huyện B, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh - GD - LĐXH tỉnh Bắc Kạn, thời hạn 12 tháng. Ngày 12/10/2012, UBND tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục Thanh Hà - Bình Xuyên - Vĩnh Phúc, thời hạn 24 tháng. Ngày 10/10/2019, bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 24/5/2020 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương và đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2022 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 40 phút ngày 30/9/2022, tại khu vực tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang đối với Dương Đức G về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ tại túi quần dài đằng trước bên trái Dương Đức G đang mặc 01 (một) gói được gói bằng loại giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có 02 (hai) gói đều được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng, qua cân xác định có tổng khối lượng là 0,213gam (không phẩy hai một ba gam). Sau khi cân niêm phong toàn bộ số chất bột màu trắng vào phong bì ký hiệu K1 gửi giám định; phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì ký hiệu K2 bảo quản theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của Dương Đức G 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, màu xanh đen đã qua sử dụng, bên trong có lắp 01 sim số thuê bao 0394.080… và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát 97F8 - 46… cùng chìa khóa xe đã qua sử dụng.
Kết luận giám định số 214/KTHS-MT ngày 04/10/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu K1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,213g (không phẩy hai một ba gam). Sau giám định mẫu chất còn lại cùng phong bì bao gói cũ niêm phong trong phong bì T178 hoàn lại Cơ quan trưng cầu.
Tại Cơ quan điều tra, Dương Đức G khai nhận: Số ma túy bị Cơ quan điều tra thu giữ là của G tàng trữ để sử dụng cho bản thân, không có mục đích khác. Về nguồn gốc số ma túy trên, Dương Đức G khai: Khoảng hơn 08 giờ ngày 30/9/2022, Dương Đức G một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97F8 - 46… đi từ nhà thuộc thôn Nà Ít, xã V, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đến thành phố Bắc Kạn để tìm mua ma túy về sử dụng. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Dương Đức G đến khu vực tổ B, phường H, thành phố Bắc Kạn, tại đây G gặp một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể, qua nói chuyện G mua với người đàn ông này 01 (một) gói được gói bằng loại giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có 02 (hai) gói nhỏ ma túy (loại heroine) đều được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng với số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, Dương Đức G cất giấu số ma túy vào túi quần dài đằng trước bên trái đang mặc và đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang và đưa người cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an phường N lập biên bản.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại Cáo trạng số 04/CT-VKSTP ngày 26/12/2022 của VKSND thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Dương Đức G về tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:
*Tuyên bố bị cáo Dương Đức G phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Đức G từ 18 (mười tám) tháng tù đến 24 (hai mươi tư) tháng tù. Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
*Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T178, 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K2.
- Tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, màu xanh đen đã qua sử dụng, bên trong điện thoại có 01 sim để thi hành án cho bị cáo.
*Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng, mong Hội đồng xét xử xem xét xử với mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Hồi 09 giờ 40 phút ngày 30/9/2022, tại tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Dương Đức G có hành vi tàng trữ trái phép 0,213g (không phẩy hai một ba gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của Dương Đức G đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
... c) Hêrôin …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam ”…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Cáo trạng số 04/CT-VKSTP ngày 26/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cố ý, đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an - xã hội của địa phương. Vì vậy, phải được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: Người phạm tội thành khẩn khai báo. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân xấu, sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm, mà lại lao vào con đường nghiện chất ma tuý, nên khi xem xét lượng hình cần phải có một hình phạt thỏa đáng tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo đã có thời gian bị tạm giữ, tạm giam nên được tính vào thời gian thụ hình cho bị cáo.
Trong vụ án này còn có người đàn ông bán ma túy cho bị cáo vào ngày 30/9/2022 tại khu vực tổ B, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Tuy nhiên, bị cáo không cung cấp được rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý.
[6 Hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện chất ma túy và không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng.
Về vật chứng trong vụ án:
- Đối với: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát 97F8 - 46… đã qua sử dụng cùng chìa khóa xe. Qua xác minh, chiếc xe mô tô trên là của ông Dương Văn C (sinh năm 1972, trú tại thôn C, xã V, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, là chú ruột của Dương Đức G). Ngày 30/9/2022, Dương Đức G hỏi mượn xe mô tô của ông C, ông C không biết G mượn để đi mua ma túy. Xét thấy việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Kạn đã trả lại xe mô tô trên cùng chìa khóa xe cho ông Dương Văn C là có căn cứ, đúng quy định.
- Các vật chứng còn lại:
+ 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T178, 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K2. Tất cả đều không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobill, màu xanh đen đã qua sử dụng, bên trong điện thoại có 01 sim, không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.
[8 Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Dương Đức G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
*Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Dương Đức G 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30/9/2022.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T178, 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K2.
- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobill, màu xanh đen đã qua sử dụng, bên trong điện thoại có 01 sim, nhưng tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/01/2023 giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí. Buộc bị cáo Dương Đức G phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn (01b); - VKSND tỉnh Bắc Kạn (01b); - VKSND thành phố Bắc Kạn (01b); - Công an thành phố Bắc Kạn (02b); - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn (Khi án có hiệu lực - 01b); - Sở Tư pháp; - Người tham gia tố tụng (01b); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Tƣ |