vanban.org

Bản án 26/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 11/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Anh V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Anh V 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 15/6/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Anh V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Anh V mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Anh V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN ND HUYỆN VĨNH LỘC
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023 /HS - ST
Ngày 11/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỘC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Mai Thị Trang

2. Ông Trịnh Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Trà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Chung - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2023/TLST

- HS ngày 17 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023QĐXXST – HS ngày 29/8/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Anh V - Sinh ngày: 18/6/1995 tại thị trấn V, huyện V, tỉnh T. Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn V, huyện V, tỉnh T. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Đức B – sinh năm 1968 và con bà Phạm Thị N - Sinh năm: 1974. Bị cáo chưa có vợ, con. Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Nhân thân: Từ nhỏ được bố mẹ cho ăn học đến hết lớp 08/12 thì nghỉ học, sinh sống và lao động tự do tại địa phương cho đến nay; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/6/2023 đến ngày 18/6/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đường Xuân Anh – Trợ giúp viên pháp lý của chi nhánh trợ giúp pháp lý số 05, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước. Có đơn xin xét xử vắng mặt và được sự đồng ý của bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Đức B – sinh năm 1968

Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn V, huyện V, tỉnh T. Có mặt.

-Người làm chứng:

+ Anh Vũ Việt H – sinh năm 2004

Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện V, tỉnh T.

+ Anh Hà Anh D – sinh năm 1999

Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện V, tỉnh T.

+ Anh Nguyễn Hoàng H1 – sinh năm 2003

Địa chỉ: Số 235 N, phường X, thành phố L, tỉnh Đ.

+ Anh Lê Đình H2 – sinh năm 1999

Địa chỉ: Thôn X, xã Y, huyện Y, tỉnh T.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 02 giờ 30 phút ngày 21/11/2022, tại quán Karaoke Long Vân thuộc thôn K, xã N, huyện Vĩnh Lộc do Lê Xuân L, sinh năm 1985 - là chủ quán, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý (PC04) – Công an tỉnh Thanh Hoá phát hiện và bắt quả tang tại phòng 301 có 06 đối tượng (03 nam và 03 nữ) và tại phòng 401 có 09 đối tượng (05 nam và 04 nữ) đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Theo kết quả xét nghiệm ma tuý có 14/15 đối tượng dương tính với các chất ma tuý cụ thể như sau: Lê Văn S, Vũ Văn Đ, Vũ Văn H, Lê Thị Minh T, Nguyễn Thị H dương tính với Ketamine, MDMA, Methamphetamin. Vũ Văn H và Vi Thị N dương tính với Ketamin. Nguyễn Anh T, Mai Công C, Hà Anh D, Cao Thị L, Nguyễn Hoàng H dương tính với Ketamin, MDM, Methamphetamin. Nguyễn Thị Ngọc Tr, Nguyễn Thị Th dương tính với Ketamin, MDMA. Nguyễn Thị H dương tính với MDMA, Ketamin. Nguyễn Việt H âm tính với ma tuý. Sau khi bắt quả tang, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hoá đã tiến hành khởi tố, điều tra và chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Lộc để tiếp tục điều tra theo thẩm quyền, hiện vụ án Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma tuý đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc ban hành bản Cáo trạng số 13/CT-VKSVL ngày 05/5/2023 truy tố các bị cáo ra trước Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc để xét xử về các tội Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma tuý, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và đã được Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc xét xử.

Quá trình điều tra, có cơ sở để xác định người bán ma tuý cho Vũ Việt H, Hà Anh D ngày 20/11/2022 tại quán Karaoke L là Hoàng Anh V (sinh năm 1995, trú tại khu phố T, thị trấn V, huyện V). Tuy nhiên, sau khi phạm tội Hoàng Anh V không có mặt tại nơi cư trú nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Lộc sau khi khởi tố bổ sung vụ án Mua bán trái phép chất ma tuý đã tách vụ án Mua bán trái phép chất ma tuý để tiếp tục điều tra, làm rõ theo quy định.

Ngày 15/6/2023, Hoàng Anh V đến đầu thú tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Lộc, làm việc với cơ quan CSĐT, Hoàng Anh V khai nhận, tối ngày 20/11/2022, Hoàng Anh V đã bán ma tuý cho Vũ Việt H và Hà Anh D cụ thể như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 20/11/2022, khi V đang ở nhà thì nhận được tin nhắn Facebook Messenger của Hà Anh D với nội dung “anh ơi bán cho em nửa chỉ Ketamine và 03 viên kẹo” và tin nhắn của Vũ Việt H với nội dung “nửa với hai con” tức là nửa chỉ Ketamin và 02 viên kẹo, sau đó V gọi điện cho H, D thống nhất giá, số lượng ma tuý và yêu cầu H, D phải đưa tiền trước. Hà Anh D đặt mua nửa chỉ Ketamin và 03 viên Kẹo là 3.400.000 đồng, Vũ Việt H đặt mua nửa chỉ Ketamin và 2 viên ma tuý kẹo với giá 2.500.000 đồng. Hà Anh D hẹn V đến quán Karaoke L, tại đây V gặp Hà Anh D ở bên hông quán, Hà Anh D đưa cho V 1.400.000 đồng tiền mặt và gọi H1 ra chuyển khoản cho V 2.000.000 đồng vào số tài khoản 9704429270117141 do V cung cấp. Sau khi nhận được tiền, V tiếp tục gặp H ở tầng 1 quán Karaoke L lấy 2.500.000 đồng.

Sau đó V đi xe mô tô biển kiểm soát 36L6-144.58 sang huyện Y gặp một người tên Lê Đình H2 (sinh năm 1999, trú tại xã Y, huyện Y) mua 01 chỉ ketamin và 05 viên ma tuý kẹo với giá 5.700.000 đồng, V chuyển khoản cho H2 vào số tài khoản 0511000458774 Ngân hàng Vietcombank số tiền 2.000.000đ và đưa thêm tiền mặt cho H2 là 3.700.000đ. Sau khi mua được ma tuý, V đi về quán L lên tầng 4 gọi D ra ngoài hành lang đưa cho D nửa chỉ Ketamine và 03 viên Kẹo, quay xuống tầng 1 gọi H vào nhà vệ sinh đưa cho H nửa chỉ Ketamine và 02 viên Kẹo rồi đi về nhà.

Khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày thì Vũ Văn Đ tiếp tục nhờ Vũ Việt H mua thêm 1/2 chỉ Ketamin, nên H tiếp tục gọi điện cho V hỏi mua thêm 1/2 chỉ Ketamin, V đồng ý bán và tiếp tục sang huyện Y mua của Lê Đình H2 nửa chỉ Ketamin với giá 1.750.000 đồng. Lấy được ma tuý, V quay về quán L gặp H và được H đưa cho 2.000.000 đồng, sau đó V tiếp tục về nhà ngủ. Đến ngày hôm sau, V nghe tin quán Karaoke L bị bắt vì Tổ chức sử dụng ma tuý nên lo sợ bị bắt nên V bỏ trốn khỏi địa phương.

Đối với Lê Đình H2 theo bị cáo Hoàng Anh V khai báo là người bán ma túy cho V, quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã tiến hành lấy lời khai của Lê Đình H2, tiến hành đối chất giữa Lê Đình H2 và Hoàng Anh V, sao kê tài khoản ngân hàng của Lê Đình H2, Lê Đình H2 xác nhận việc tối ngày 20/11/2022 Hoàng Anh V có sang nhà H2 chơi, khi hai người đang nói chuyện thì H2 nhớ ra V trước đó có nợ H2 2.000.000 đồng nên anh bảo V trả nợ và V đã chuyển khoản cho anh 2.000.000 đồng theo số tài khoản 0511000458774 tại ngân hàng Vietcombank. H2 trình bày, việc V chuyển tiền cho H2 không liên quan gì đến việc mua bán ma tuý. Do đó, không đủ căn cứ để xác định Lê Đình H2 là người bán ma tuý cho V vào tối ngày 20/11/2022 nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xử lý đối với Lê Đình H2 về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

* Vật chứng vụ án:

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36L6-144.58 Hoàng Anh V sử dụng làm phương tiện để đi mua ma tuý về bán cho Vũ Việt H và Hà Anh D, qua xác minh, xe mô tô nói trên là tài sản của ông Hoàng Đức B, bố đẻ của Hoàng Anh V, ông B không biết và không tham gia hoạt động mua bán ma túy với V nên Cơ quan CSĐT không tiến hành thu giữ.

Đối với chiếc điện thoại di động Hoàng Anh V sử dụng để giao dịch mua bán trái phép chất ma túy, V khai báo đã làm rơi mất trên đường trốn ra tỉnh Quảng Ninh nên Cơ quan CSĐT không thu giữ được.

Đối với số tiền 7.900.000 đồng Vũ Việt H và Hà Anh D đưa cho bị cáo để mua ma tuý, do không chứng minh được bị cáo mua ma tuý từ Lê Đình H2 nên bị cáo có trách nhiệm giao nộp lại số tiền 7.900.000 đồng. Số tiền dùng vào việc phạm tội hiện chưa được Hoàng Anh V và gia đình giao nộp, số tiền thu lời bất chính là 450.000 đồng gia đình bị cáo Hoàng Anh V chủ động giao nộp cho cơ quan điều tra công an huyện Vĩnh Lộc, hiện đang được bảo quản trong tài khoản số 3949.0.1054809 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc ngày 18/8/2023.

Tại bản Cáo trạng số: 25/CT- VKSVL ngày 16/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc truy tố bị cáo Hoàng Anh V về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS năm 2015.

Xử phạt bị cáo Hoàng Anh V mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 15/6/2023).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Anh V.

Xử lý vật chứng: Số tiền 7.450.000 được là tiền dùng vào việc phạm tội hiện chưa được Hoàng Anh V và gia đình giao nộp. Đề nghị HĐXX buộc Hoàng Anh V phải nộp để sung vào ngân sách Nhà nước.

Đề nghị HĐXX sung vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính là 450.000 đồng gia đình bị cáo Hoàng Anh V chủ động giao nộp cho cơ quan điều tra công an huyện Vĩnh Lộc, hiện đang được bảo quản trong tài khoản số 3949.0.1054809 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc ngày 18/8/2023.

Về án phí: Bị cáo Hoàng Anh V là người tàn tật nên miễn án phí HSST cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến trình bày của người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà đại diện VKSND đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, bị cáo đã đầu thú, luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với lỗi lầm của mình. Bị cáo là người tàn tật đang được hưởng trợ cấp xã hội, gia đình khó khăn, bố mẹ ly hôn nên bị cáo đã bỏ học từ khi học xong lớp 8 để đi làm nên nhận thức cũng có phần hạn chế. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Lộc, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng, cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận:

Tối ngày 20/11/2022, tại quán Karaoke L, thuộc thôn K, xã N, huyện Vĩnh Lộc, bị cáo Hoàng Anh V đã bán cho Hà Anh D 1/2 chỉ ma tuý Ketamin, 03 viên ma tuý Kẹo với giá 3.400.000 đồng và thu lời bất chính 200.000 đồng và bán cho Vũ Việt H 02 lần, lần thứ nhất 1/2 chỉ ma tuý Ketamin, 02 viên ma tuý Kẹo với giá 2.500.000 đồng, lần thứ hai 1/2 chỉ ma tuý Ketamin với giá 2.000.000 đồng, thu lời bất chính 250.000 đồng. Như vậy, vào tối ngày 20/11/2022, Hoàng Anh V đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý 03 lần (không xác định được khối lượng do các đối tượng đã sử dụng hết) và thu lợi bất chính 450.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi của Hoàng Anh V đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ hành vi, hậu quả thấy rằng:

Tội phạm về ma túy là nguy hiểm cho xã hội, nó đang trở thành hiểm họa lớn cho toàn xã hội, ma túy không những ảnh hưởng tới sức khỏe, phẩm giá của con người, hạnh phúc của gia đình, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, ma túy chính là tác nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác, chính vì thế Đảng và Nhà nước đã không ngừng tuyên truyền, giáo dục phòng ngừa các tội phạm về ma túy. Hành vi của bị cáo Hoàng Anh V bị xã hội lên án, hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật đồng thời để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Vì vậy, HĐXX cần lên cho bị cáo một mức án nghiêm minh và buộc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu nhưng thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, bị cáo đầu thú, chủ động vận động gia đình nộp lại số tiền thu lời bất chính nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người tàn tật đang được hưởng trợ cấp xã hội, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36L6-144.58 Hoàng Anh V sử dụng làm phương tiện để đi mua ma tuý về bán cho Vũ Việt H và Hà Anh D, qua xác minh, xe mô tô nói trên là tài sản của ông Hoàng Đức B (bố đẻ của Hoàng Anh V) ông B không biết và không tham gia hoạt động mua bán ma túy với V nên Cơ quan CSĐT không tiến hành thu giữ.

Đối với số tiền 7.900.000 đồng Vũ Việt H và Hà Anh D đưa cho bị cáo để mua ma tuý, do không chứng minh được bị cáo mua ma tuý từ Lê Đình H2 nên bị cáo phải có trách nhiệm nộp lại số tiền 7.900.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước. Trong đó, gia đình bị cáo Hoàng Anh V đã chủ động giao nộp cho cơ quan điều tra công an huyện Vĩnh Lộc số tiền thu lời bất chính là 450.000 đồng, số tiền này hiện đang được bảo quản trong tài khoản số 3949.0.1054809 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc ngày 18/8/2023. Buộc bị cáo Hoàng Anh V phải tiếp tục nộp số tiền còn lại do phạm tội mà có là 7.450.000 đồng (B triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Vấn đề khác: Đối với Lê Đình H2 theo bị cáo Hoàng Anh V khai báo là người bán ma túy cho V, quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã tiến hành lấy lời khai của Lê Đình H2, tiến hành đối chất giữa Lê Đình H2 và Hoàng Anh V, sao kê tài khoản ngân hàng của Lê Đình H2, Lê Đình H2 xác nhận việc tối ngày 20/11/2022 Hoàng Anh V có sang nhà H2 chơi, khi hai người đang nói chuyện thì H2 nhớ ra V trước đó có nợ H2 2.000.000 đồng nên anh bảo V trả nợ và V đã chuyển khoản cho anh 2.000.000 đồng theo số tài khoản 0511000458774 tại ngân hàng Vietcombank. H2 trình bày, việc V chuyển tiền cho H2 không liên quan gì đến việc mua bán ma tuý. Do đó, không đủ căn cứ để xác định Lê Đình H2 là người bán ma tuý cho V vào tối ngày 20/11/2022 nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xử lý đối với Lê Đình H2 về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Về án phí: Bị cáo Hoàng Anh V là người khuyết tật và có đơn xin miễm tiền án phí nên miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Anh V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Anh V 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 15/6/2023).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Anh V.

-Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 7.900.000 đồng (Bây triệu chín trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội. Trong đó, gia đình bị cáo Hoàng Anh V đã chủ động nộp cho cơ quan điều tra công an huyện Vĩnh Lộc số tiền là 450.000 đồng, số tiền này hiện đang được bảo quản trong tài khoản số 3949.0.1054809 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc ngày 18/8/2023. Buộc bị cáo Hoàng Anh V phải tiếp tục nộp số tiền còn lại là 7.450.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Anh V.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014 thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự và điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án Dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ