- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HS-ST Ngày 19 tháng 4 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân: Lê Mạnh Nhanh và ông Nguyễn Tiến Bộ.
- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Ngọc Bích -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 04 năm 2023 đối với:
Bị cáo Nguyễn Văn H, sinh năm 1993. Tên gọi khác: không có.
Nơi sinh: thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.
Giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Trần Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 14/01/2023, thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 19/01/2023. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 40 phút ngày 14/01/2023, tại khu vực Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, Tổ công tác Đại đội 3, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Cảnh sát Cơ động – Công an thành phố Hà Nội phối hợp cùng Công an thị trấn Đại Nghĩa kiểm tra phát hiện Phan Thành L, sinh năm 2001, trú tại 6A, Lô 13, Phạm Thế Hiển, Phường 4, Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh điều khiển xe máy Honda Wave Biển kiểm soát 29Y3-064.32, phía sau chở Nguyễn Văn H, sinh năm 1993, trú tại: tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội có biểu hiện nghi vấn. Quá trình kiểm tra phát hiện và thu giữ tại túi quần bên trái của H đang mặc có hai túi nilon màu trắng, bên trong hai túi chứa tinh thể màu trắng và 03 viên nén hình tam giác màu tím. Bản thân H khai nhận là ma túy dạng Kẹo và Ke của H mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản và thu giữ vật chứng gồm: 01 xe máy Biển kiểm soát 29Y3-06432, nhãn hiệu Wave màu trắng và 02 túi nilon màu trắng bên trong hai túi chứa tinh thể màu trắng và 03 viên nén hình tam giác màu tím của H.
Tại Kết luận giám định số 547/KLGĐ-KTHS ngày 23/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilong đều là ma tuý loại Ketamine, tổng khối lượng 2,886 gam.
- 03 viên nén màu tím hình tam giác đều là ma tuý loại MDMA, tổng khối lượng: 1,194 gam.
Quá trình điều tra làm rõ như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 14/01/2023, Nguyễn Văn H điều khiển xe máy Biển kiểm soát 29Y3-06432, nhãn hiệu wave màu trắng đi từ nhà ở tổ dân phố T, thị trấn Đ đến khu vực đầu cầu T, thị trấn Đ mục đích tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, H gặp một người nam giới tên Tuấn (không rõ họ tên đầy đủ, tuổi và địa chỉ cụ thể) và mua của người này hai túi nilon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy “ke” và ba viên nén hình tam giác là ma túy “kẹo” với giá 5.000.000 đồng. H để số ma túy trên vào túi quần bên trái đang mặc và đi về. H điều khiển xe máy đi đến khu vực Tổ dân phố V, thị trấn Đ để đón và rủ Phan Thành L (là bạn của H đi uống nước. L đồng ý và điều khiển xe máy Biển kiểm soát 29Y3-06432 chở H ngồi phía sau, khi cả hai đi đến khu vực tổ dân phố T, thị trấn Đ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên. H khai số ma tuý trên sử dụng cho bản thân và L không biết H tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Tại Cơ quan điều tra Phan Thành L khai: ngày 14/01/2023, Nguyễn Văn H chỉ rủ L đi uống nước, L không biết H tàng trữ trái phép chất ma tuý. Lời khai của Phan Thành L phù hợp lời khai của Nguyễn Văn H và lời khai của người làm chứng Trần Văn T, sinh năm 1997, trú tại Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.
Ngày 15/01/2023. Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Nguyễn Văn H và Phan Thành L, kết quả: Nguyễn Văn H dương tính với ma tuý; Phan Thành L âm tính với ma tuý.
Về tang vật là chiếc xe máy Honda Wave màu trắng Biển kiểm soát 29Y3-064-32, có số máy: HC12E508199, số khung: RLHHC1218DY081889, qua tra cứu xác định: Biển kiểm soát 29Y3-064-32, đăng ký xe tên Đinh Văn Tuấn, sinh năm 1989, trú tại thôn Đ, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội, loại xe EXCITER, số máy: 55P1-059229; số khung: RLCE55P10BY059291 (Không trùng số khung, số máy mà Cơ quan điều tra đã thu giữ). Anh Tuấn khai mua xe YAMAHA EXCITER năm 2011, anh sử dụng đến năm 2014 thì bán cho một người không quen biết. Hiện nay anh không sở hữu chiếc xe nêu trên.
Đối với xe máy Wave Honda màu trắng số máy: HC12E508199, số khung: RLHHC1218DY081889 qua tra cứu xác định: Xe có Biển kiểm soát: 37N1-537.18, đăng ký xe mang tên Hoàng Thị T, sinh năm 1994, trú tại xóm 2, xã X, huyện H, tỉnh Nghệ An. Chị T khai mua và đăng ký xe trên năm 2013, đến khoảng tháng 9/2022, chị cho em trai là Hoàng Văn Ch, sinh năm 2004 hiện đang là sinh viên trường Đại học khoa học và công nghệ Hà Nội mượn. Đến tháng 10/2022, anh Ch để xe trên đường Lê Văn Lương, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội thì bị kẻ gian trộm cắp.
Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 48/QĐ-CQĐT ngày 27/02/2023 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội giám định số khung, số máy nguyên thuỷ của xe Honda Wave màu trắng số máy: HC12E508199, số khung: RLHHC1218DY081889; và Biển kiểm soát 29Y3-064-32 là thật hay giả.
Tại Kết luận giám định số 1607/KL-KTHS ngày 22/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
Xe mô tô Honda Wave số máy: HC12E508199, số khung: RLHHC1218DY081889 đều nguyên thuỷ;
Không giám định Biển kiểm soát: 29Y3-064.32 do không có mẫu so sánh.
Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự đối với: Xe mô tô Honda Wave số máy: HC12E508199, số khung: RLHHC1218DY081889 và chuyển tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Thanh Xuân để giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với Biển kiểm soát: 29Y3-064.32 do chưa xác minh làm rõ nên Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục xem xét giải quyết.
Cáo trạng số 20/CT-VKS-MĐ ngày 31/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của đối tượng Nguyễn Văn H và của giám định viên được hoàn lại sau giám định.
+ Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người có liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại. Có đủ căn cứ xác định, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: ngày 14/01/2023, Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ 1,194 gam ma túy loại MDMA và 2,866 gam ma tuý loại Ketamine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.
Căn cứ quy định tại điểm a, b, khoản 2, Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự 2015, xác định được:
Tỷ lệ % chất ma túy MDMA/tổng khối lượng tối thiểu quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 249 là: 1,194 : 5 x 100% = 23,88%.
Tỷ lệ % Ketamine/tổng khối lượng tối thiểu quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 249 là: 2,886 : 20 x 100% = 14,43%.
Tổng tỷ lệ của hai chất ma túy nói trên là: 14,43% + 23,88% = 38,31% (nhỏ hơn 100%).
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức đối với bị cáo Nguyễn Văn H theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cao cho xã hội, trực tiếp xâm hại tới chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, do đó phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bảo đảm tác dụng giáo dục cải tạo riêng và phòng ngừa chung.
Xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, xét thấy số ma túy thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Đối với người nam giới tên Tuấn đã bán ma túy cho Nguyễn Văn H, do H không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra làm rõ là có cơ sở.
Đối với Phan Thành L, quá trình điều tra làm rõ L không biết H tàng trữ trái phép chất ma tuý nên không xem xét giải quyết là đúng.
Đối với tang vật là chiếc xe máy Honda Wave và Biển kiểm soát: 29Y3-064.32, do là vật chứng trong vụ án khác nên Cơ quan điều tra đã tách ra là phù hợp.
Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự,
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt Nguyễn Văn H 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/01/2023 đến ngày 19/01/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo chứa trong phong bì mẫu vật của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hà Nội có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Văn H.
Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/3/2023 giữa Công an huyện Mỹ Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
- Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:
| - TAND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Mỹ Đức; - Công an huyện Mỹ Đức; - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức; - UBND thị trấn Đ (thay TBKQXX); - Bị cáo; - Lưu VT, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Đức Hiệp |