vanban.org

Bản án 26/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre Tuyên án 09/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Duy P phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Duy P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 09/6/2023. Giao bị cáo Nguyễn Văn Duy P cho Ủy ban nhân dân thị trấn MC, huyện M, tỉnh Bến Tre phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo P phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Duy P phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 26/2023/HS-ST
Ngày 09-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Dân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Chí Thành.

2. Ông Ngô Bá Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Mai, Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Đông Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Duy P, sinh năm: 1992 tại tỉnh Bến Tre. Nơi cư trú: Khu phố 7, thị trấn MC, huyện M, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm: 1960 và bà Triệu Thị Mỹ H, sinh năm 1966; vợ: Hồ Thị H và 03 người con, lớn nhất sinh năm: 2015, nhỏ nhất sinh năm: 2020; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Huỳnh Văn A (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thị L, sinh năm: 1973.

Nơi cư trú: Ấp TL, xã TH, huyện M, tỉnh Bến Tre (Có mặt).

- Người làm chứng:

1. Anh Lâm Phát H, sinh năm: 1983.

Nơi cư trú: Ấp GT, xã NP, huyện B, tỉnh Bến Tre (Có mặt).

2. Chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm: 1989.

Nơi đăng ký thường trú: Khu vực VI, phường BN, thành phố NB, tỉnh Hậu Giang.

Chỗ ở hiện nay: Ấp GC, xã NP, huyện B, tỉnh Bến Tre (Có mặt).

3. Anh Nguyễn Dương Thái N, sinh năm: 2000.

Nơi cư trú: Ấp AP, xã AT, huyện M, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/11/2022, sau khi đã sử dụng bia, Nguyễn Văn Duy P điều khiển xe ôtô con 07 chỗ biển số 83A-046.54 lưu thông trên Quốc lộ 57 hướng từ cầu KM đi cầu LT. Khi đến khu vực thuộc ấp TL, xã TH, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre do thiếu chú ý quan sát nên không nhìn thấy ông Huỳnh Văn A đang đi bộ từ lề phải sang lề trái theo hướng xe P lưu thông. Khi nhìn thấy ông A, khoảng cách giữa đầu xe của P và ông A còn khoảng 05-06 mét nên P không kịp thời xử lý tình huống dẫn đến phần đầu xe va đụng trực tiếp vào người ông A làm ông A bị đa chấn thương và tử vong lúc 21 giờ 45 phút cùng ngày tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: Một xe ôtô biển số 83A-046.54, nhãn hiệu: TOYOTA, loại xe: ôtô con, số loại: INNOVA-G, màu sơn: bạc, số khung: 43G989225555, số máy: 1TR6566110 (bị hư hỏng do tai nạn); giấy phép lái xe hạng C số: 790146695555 mang tên Nguyễn Văn Duy P do Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/3/2019; giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DA 1266822; giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số: 008250; 04 (bốn) mảnh tróc sơn màu trắng và bạc; 03 (ba) mảnh nhựa màu đen và 01 (một) ốp da vôlăng; 01 (một) đôi dép cao su màu đen và 01 (một) nón vải lưỡi trai màu xanh đen.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 17/11/2022 thể hiện: Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường cong, mặt đường được thảm nhựa rộng 10,40m, nằm trong phạm vi điều chỉnh của biển báo hiệu giao thông đường bộ cong “W201a”, giữa mặt đường có vạch kẻ sơn đường màu vàng đứt quảng và liền nét, chia mặt đường thành 02 phần đường xe chạy riêng biệt. Ở mỗi phần đường có vạch kẻ sơn đường màu trắng liền nét chia phần đường thành 02 làn đường, làn đường bên phải trong cùng rộng 1m65. Khu vực xảy ra tai nạn không có vạch kẻ sang đường dành cho người đi bộ, có hệ thống đèn đường chiếu sáng. Hiện trường có 01 xe ôtô biển số 83A-046.54, 05 vùng mảnh vỡ, 01 nón vải lưỡi trai màu xanh đen, 01 đôi dép cao su màu đen, 02 vùng dung dịch màu đỏ, 02 vết phanh, 01 vết ma sát có dính mô cơ. Hướng khám nghiệm từ cầu KM đi cầu LT và ghi nhận các dấu vết chính như sau:

- Vùng mảnh vỡ thứ nhất: Là mảnh tróc sơn màu trắng và bạc do xe ôtô biển số 83A-046.54 để lại nằm bên phần đường bên trái theo hướng khám nghiệm, có kích thước 0,03m x 0,01m, điểm gần nhất cách tim đường 0,80m, điểm gần nhất cách đầu vạch kẻ sơn đường màu vàng liền nét (bắt đầu đường cong) 6m40.

- Vùng mảnh vỡ thứ hai: Là vùng gồm 03 mảnh tróc sơn màu trắng và bạc do xe ôtô biển số 83A-046.54 để lại nằm bên phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm, có kích thước 0,05m x 0,01m, điểm gần nhất cách điểm gần nhất vùng mảnh vỡ thứ nhất 2m86, cách tim đường 2m04. Nón vải lưỡi trai màu xanh đen và dép cao su (bàn chân trái) là của nạn nhân Huỳnh Văn A để lại, nằm bên phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm.

- Vị trí xe ôtô biển số 83A-046.54: Phần bánh xe bên phải nằm bên phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm; phần bánh xe bên trái nằm bên phần đường bên trái, đầu xe quay về hướng cầu LT; tâm trục bánh sau bên phải cách tim đường 0,85m, cách điểm gần nhất vùng mảnh vỡ thứ nhất 14,90 mét, cách điểm gần nhất nón vải lưỡi trai màu xanh đen 14,05 mét, cách đầu vùng mảnh vỡ 3 và máu nhỏ giọt 6m60; tâm trục bánh trước bên phải cách tim đường 0,82m; tâm trục bánh sau bên trái cách tim đường 0,82m; tâm trục bánh trước bên phải cách tim đường 0,81m.

- Vết phanh thứ nhất: Do bánh xe trước bên phải của xe ôtô 83A-046.54 để lại, nằm bên phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm là vết phanh đơn có kích thước (02m x 0,20m), đầu vết cách tim đường 0,87m, cách tâm trục bánh sau bên phải xe ôtô 83A-046.54 là 0,20m, cuối vết cách tim đường 0,86m.

- Vết phanh thứ hai: Do bánh xe trước bên trái của xe ôtô 83A-046.54 để lại nằm bên phần đường bên trái theo hướng khám nghiệm là vết phanh đơn có kích thước (1m90 x 0,14m), đầu vết cách tim đường 0,82m, cách đầu vết phanh thứ nhất 1m60, cuối vết cách tim đường 0,81m.

- Vết ma sát: Do thân người của nạn nhân Huỳnh Văn A ma sát với mặt đường để lại là vết ma sát ướt có mô cơ nằm bên phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm có kích thước (1m50 x 0,07m), đầu vết cách tim đường 0,44m, cách tâm trục bánh trước bên phải xe ôtô biển số 83A-046.54 là 1m45, cuối vết cách tim đường 0,34m.

Kết quả khám nghiệm xe ôtô biển số 83A-046.54 ghi nhận: Biển số xe phía trước cong, biến dạng, thụng vào trong có kích thước (50cm x 12cm), điểm thấp nhất cách đất 47cm. Cản xe dưới có vết bể nhựa dính dung dịch màu đỏ (nghi máu) đã khô có kích thước (40cm x 40cm), điểm thấp nhất cách đất 39cm. Cản xe trên phía trước bể rời khỏi vị trí ban đầu có kích thước (110cm x 30cm), điểm thấp nhất cách đất 70cm. Nắp ca bô mốp thụng, biến dạng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới kích thước (140cm x 80cm), điểm thấp nhất cách đất 70cm; nắp ca bô sơn bạc tại vị trí vết bị bông tróc sơn có dính dung dịch màu đỏ (nghi máu) đã khô. Kính chắn gió trước bị bể kích thước (140cm x 90cm), mốp thụng từ trước ra sau; tâm vùng mốp thụng cách thành xe bên phải 85cm, cách thành dưới kính 17cm. Kính chắn gió cửa xe trước bên phải đang mở. Thành xe bên phải không có dấu vết mới. Đuôi xe không phát hiện dấu vết mới. Thành xe bên trái không phát hiện dấu vết mới. Kính chắn gió cửa xe trước bên trái đang mở. Gương chiếu hậu bên trái bể đẩy lệch từ sau ra trước, từ ngoài vào trong. Toàn bộ mặt lăn bánh xe trước bên phải và bên trái có vết mài mòn cao su rộng 16cm. Mặt lăn bánh xe sau bên phải và bên trái không phát hiện dấu vết. Bên trong xe thu giữ ốp da, vô lăng. Phía dưới ghế trước bên phải có nhiều lon bia SAIGON, trà sữa và nước đá. Ghế hàng thứ hai bên phải ở trạng thái bật. Hàng ghế thứ ba bên phải ở trạng thái xếp.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu số: 576/YHXN ngày 17/11/2022 của Bệnh viện Đa khoa khu vực Cù Lao Minh xác định: Nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Văn Duy P là 119mg/100ml máu (trị số bình thường 0-30).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 209/TT ngày 25/11/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Bến Tre kết luận: Nạn nhân Huỳnh Văn A chết do đa chấn thương.

Tại Kết luận giám định số: 311/KL-KTHS ngày 11/01/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ Công An kết luận:

- Dấu vết gãy vỡ, cong biến dạng, các chi tiết phía trước xe ôtô biển số 83A-046.54 (gồm mặt ca lăng, biển số, cản nước, nắp ca pô) có chiều từ trước về sau phù hợp va chạm bên trái người đi bộ Huỳnh Văn A.

- Phía trước xe ôtô và bên trái người đi bộ là vị trí va chạm đầu tiên.

- Vị trí va chạm đầu tiên chiếu xuống mặt đường giữa xe ôtô và người đi bộ thuộc phần đường bên phải Quốc lộ 57, theo hướng từ cầu KM đến thị trấn MC.

Tại Kết luận giám định số: 344/KL-KTHS ngày 13/01/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ Công An kết luận:

- Trước, trong và sau khi xảy ra tai nạn giao thông, hệ thống phanh, hệ thống lái, đèn và còi của xe ôtô biển số 83A-046.54 hoạt động bình thường, không bị hư hỏng.

- Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ôtô biển số 83A-046.54 khi tham gia tai nạn giao thông.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại đồng ý với các kết luận giám định và không có yêu cầu khác.

Tại Cáo trạng số: 24/CT-VKSMCN ngày 10 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn Duy P về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Bị cáo giữ nguyên lời khai như trong quá trình điều tra, truy tố và thừa nhận hành vi đã thực hiện theo nội dung bản cáo trạng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo; người đại diện hợp pháp của bị hại bà Lê Thị L giữ nguyên lời khai như trong quá trình điều tra, đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo; người làm chứng anh Lâm Phát H và chị Nguyễn Thị Thùy T giữ nguyên lời khai như trong quá trình điều tra; người làm chứng anh Nguyễn Dương Thái N vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án, cho rằng: Việc truy tố hành vi của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên bảo lưu toàn bộ nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Duy P phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Duy P từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 585, 586 và 591 của Bộ luật Dân sự:

Bị cáo tự nguyện bồi thường xong thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 150.000.000 đồng. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên ghi nhận.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Bến Tre trả cho người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Lê Thị L: 01 (một) đôi dép cao su màu đen và 01 (một) nón vải lưỡi trai màu xanh đen. Trả cho bị cáo Nguyễn Văn Duy P: 01 (một) xe ôtô biển số 83A-046.54, nhãn hiệu: TOYOTA, loại xe: ôtô con, số loại: INNOVA-G, màu sơn: bạc, số khung: 43G989225555, số máy: 1TR6566110; giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DA 1266822; giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số: 008250; 04 (bốn) mảnh tróc sơn màu trắng và bạc; 03 (ba) mảnh nhựa màu đen và 01 (một) ốp da vôlăng.

Trả cho bị cáo Nguyễn Văn Duy P: Giấy phép lái xe hạng C số: 790146695555 mang tên Nguyễn Văn Duy P do Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/3/2019.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người làm chứng anh Nguyễn Dương Thái N vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Xét thấy, người làm chứng đã có lời khai cụ thể, rõ ràng tại cơ quan điều tra và việc vắng mặt của người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn Duy P thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ để xác định:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/11/2022, sau khi đã sử dụng bia, Nguyễn Văn Duy P điều khiển xe ôtô con biển số 83A-046.54 lưu thông trên Quốc lộ 57 hướng từ cầu KM đi cầu LT. Khi đến khu vực thuộc ấp TL, xã TH, huyện M, tỉnh Bến Tre do thiếu chú ý quan sát và xử lý tình huống không kịp thời dẫn đến xe của P va đụng vào ông Huỳnh Văn A đang đi bộ từ lề phải sang lề trái theo hướng xe P đang lưu thông. Hậu quả làm ông Huỳnh Văn A chết.

Bị cáo là người thành niên, có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định. Tuy nhiên, bị cáo điều khiển phương tiện tham gia giao thông trong tình trạng có sử dụng rượu, bia và nồng độ cồn vượt quá mức quy định (nồng độ cồn 119mg/100ml máu) và thiếu chú ý quan sát để bảo đảm an toàn cho người đi bộ qua đường. Hành vi của bị cáo đã vi khoản 8, khoản 23 Điều 8, khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ và khoản 6 Điều 5, khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia; hành vi đó đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng của người khác. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn Duy P phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng số 24/CT-VKSMCN ngày 10 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Mặc dù, việc gây ra tai nạn giao thông là lỗi vô ý, bản thân bị cáo không mong muốn nhưng đã gây ra hậu quả nghiêm trọng làm một người chết gây đau thương mất mát cho gia đình bị hại. Xét thấy, tính chất của hành vi phạm tội là nghiêm trọng, hiện nay tình hình an ninh trật tự liên quan đến loại tội phạm này xảy ra trên địa bàn ngày càng gia tăng và phức tạp. Bên cạnh đó, người tham gia giao thông chủ quan khi điều khiển phương tiện giao thông, bất chấp luật giao thông đường bộ nên cần xem xét áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và tạo tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm.

Trong lượng hình Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cụ thể:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; trong suốt quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải - đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51. Ngoài ra, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội, hiện tại điều kiện kinh tế gia đình khó khăn và đang là lao động chính trong gia đình nuôi ba con nhỏ, sau khi sự việc xảy ra bị cáo thường xuyên đến thăm hỏi và động viên gia đình bị hại, tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo - đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) được áp dụng đối với bị cáo.

Do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 nên xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Đồng thời, căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Xét thấy, bị cáo đáp ứng các điều kiện để được xem xét cho hưởng án treo theo Văn bản hợp nhất số: 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú.

Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề và làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Qua xem xét về điều kiện, hoàn cảnh sống của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), gồm: Chi phí điều trị, tiền xe đi lại, chi phí cho việc mai táng, tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, tiền cấp dưỡng nuôi con của bị hại. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Xét thấy, đây là ý chí tự nguyện của các đương sự và phù hợp với Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 584, 585, 586 và 591 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Bến Tre trả cho người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Lê Thị L: 01 (một) đôi dép cao su màu đen và 01 (một) nón vải lưỡi trai màu xanh đen. Trả cho bị cáo Nguyễn Văn Duy P: 01 (một) xe ôtô biển số 83A-046.54, nhãn hiệu: TOYOTA, loại xe: ôtô con, số loại: INNOVA-G, màu sơn: bạc, số khung: 43G989225555, số máy: 1TR6566110; giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DA 1266822; giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số: 008250; 04 (bốn) mảnh tróc sơn màu trắng và bạc; 03 (ba) mảnh nhựa màu đen và 01 (một) ốp da vôlăng theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số: 66/QĐ-ĐTTH ngày 10 tháng 02 năm 2023 và Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số: 11/QĐ-ĐTTH ngày 27 tháng 02 năm 2023. Xét thấy, việc trao trả vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Bến Tre là phù hợp theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên ghi nhận.

Đối với giấy phép lái xe hạng C số: 790146695555 mang tên Nguyễn Văn Duy P do Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/3/2019 thuộc sở hữu của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo xin được nhận lại nên xem xét trả lại cho bị cáo.

Xét luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Đề nghị về hình phạt chính chưa phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận. Đối với các đề nghị còn lại là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Văn Duy P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Duy P phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Duy P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 09/6/2023.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Duy P cho Ủy ban nhân dân thị trấn MC, huyện M, tỉnh Bến Tre phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả cho bị cáo Nguyễn Văn Duy P: Giấy phép lái xe hạng C số: 790146695555 mang tên Nguyễn Văn Duy P do Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/3/2019.

Vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Bến Tre tạm giữ theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 18 tháng 5 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M, tỉnh Bến Tre với Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Bến Tre.

[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Duy P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ