- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V: 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HS-ST Ngày 09/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Giáp Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tiến Chỉnh
2. Ông Nguyễn Hữu Huân
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang; Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn V, sinh năm 1993. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT: Thôn Th, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Chỗ ở hiện nay: Thôn Th2, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên Chúa giáo. Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ học vấn: 08/12. Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Bố đẻ: Nguyễn Văn K, sinh năm 1964. Mẹ đẻ: Đào Thị B, sinh năm 1972. Gia đình bị can có 02 anh chị em ruột, bản thân là con thứ 01 trong gia đình. Bị can chưa có vợ và con. Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. (Có mặt tại phiên tòa-Điểm cầu Trại tạm giam, Công an tỉnh Bắc Giang).
2. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1964 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Chỗ ở hiện nay: Thôn Th2, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
3. Người chứng kiến:
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1980 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Đều có địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 50 phút ngày 31/12/2022, tại đoạn đường liên thôn thuộc Thôn Đ, xã T, huyện Lục Nam, Công an huyện Lục Nam phối hợp cùng Công an tỉnh Bắc Giang và Công an xã Tam Dị, huyện Lục Nam bắt quả tang đối tượng Nguyễn Văn V đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 02 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ bên trong đựng chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) thu giữ tại mặt đường bê tông cạnh vị trí V đang đứng (V khai là ma túy do V vất ra khi bị kiểm tra) được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT1”; 01 cóong thủy tinh thu giữ tại túi áo khoác bên trái V đang mặc; 02 điện thoại di động (gồm 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen và 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo màu xanh) được niêm phong ký hiệu “QT2”; 01 mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha màu trắng BKS 98B3-869.37. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn V không phát hiện thu giữ gì.
Số vật chứng thu giữ nghi là ma túy Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam đã trưng cầu gửi giám định. Tại Kết luận giám định số 10/KL-KTHS ngày 05/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận: Trong 01 phong bì có ký hiệu “QT1” được dán kín, niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 02 túi nilon màu trắng một đầu của mỗi túi đều có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,445 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn V khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ ngày 31/12/2022, V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave anpha màu trắng, BKS 98B3- * đi từ nhà sang khu vực chân cầu Lục Nam, thuộc tổ dân phố Chàng 1, thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam để hỏi mua ma túy (do trước đấy V nghe bạn bè nói chuyện ở đây có người tên Ịch bán ma túy). Đến nơi, V dựng xe mô tô ở rìa đường rồi đi bộ đến trước cửa ngôi nhà ba tầng thì có người đàn ông hỏi V “cần lấy gì”, V nói “Lấy em 300.000 đồng tiền đá”, (tức ma túy Methamphetamine) rồi V đưa 300.000 đồng qua ô thoáng cửa xếp. Người đàn ông ở trong nhà ném qua ô thoáng cửa xếp ra ngoài cho V 02 túi nilon màu trắng bên trong đựng ma túy Methamphetamine. Sau khi mua được ma túy V cất vào túi áo khoác rồi đi xe mô tô về nhà ngủ. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày V điều khiển xe mô tô BKS 98B3- *, mang theo 02 túi ma túy cùng 01 coóng thủy tinh đến nhà Nguyễn Văn L, sinh năm 1989 ở Thôn Đ, xã T, huyện Lục Nam để mượn dụng cụ sử dụng ma túy nhưng Lục không có nhà. Khi V đi đến đoạn đường liên thôn thuộc Thôn Đ, xã T, huyện Lục Nam thì bị Công an huyện Lục Nam phối hợp cùng Công an tỉnh Bắc Giang và Công an xã Tam Dị, huyện Lục Nam kiểm tra phát hiện, bắt giữ, thu giữ vật chứng.
Về vật chứng: 01 phong bì thư, ký hiệu “QT1” là mẫu vật được hoàn lại sau giám định bên trong là ma túy; 01 phong bì thư ký hiệu “QT2”, bên trong là 02 điện thoại; 01 cóong thủy tinh Cơ quan điều tra chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam để xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.
* Tại bản Cáo trạng số: 19/CT-VKS ngày 28 tháng 3 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xác nhận Cáo trạng truy tố bị cáo không oan sai. Ngoài ra bị cáo còn trình bày: Trưa ngày 31/12/2022 bị cáo đi xe mô tô đến khu vực chân cầu Lục Nam để mua ma túy. Đến nơi, V dựng xe mô tô ở rìa đường rồi đi bộ đến trước cửa ngôi nhà ba tầng thì có người đàn ông hỏi V “cần lấy gì”, V nói “Lấy em 300.000 đồng tiền đá”, (tức ma túy Methamphetamine) rồi V đưa 300.000 đồng qua ô thoáng cửa xếp. Người đàn ông ở trong nhà ném qua ô thoáng cửa xếp ra ngoài cho V 02 túi nilon màu trắng bên trong đựng ma túy Methamphetamine. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày V điều khiển xe mô tô BKS 98B3- *, mang theo 02 túi ma túy cùng 01 coóng thủy tinh đến nhà Nguyễn Văn L để mượn dụng cụ sử dụng ma túy nhưng Lục không có nhà. Khi V đi đến đoạn đường liên thôn thuộc Thôn Đ, xã T, huyện Lục Nam thì bị Công an huyện Lục Nam phối hợp cùng, thu giữ vật chứng.
Về 02 điện thoại của bị cáo bị thu giữ (gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu đen) bị cáo V có đề nghị được nhận lại.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố của bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo ngày 31/12/2022.
Phạt bổ sung số tiền 5.000.000 đồng đối với bị cáo V.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có ký hiệu “QT1” là mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong là ma túy. Tịch thu tiêu hủy 01 Coóng thủy tinh. Trả lại cho bị cáo V 02 điện thoại gồm 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen và 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo màu xanh nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo V phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
* Tranh luận với kết luận của đại diện Viện kiểm sát:
- Bị cáo Nguyễn Văn V tranh luận đối đáp: Bị cáo không tranh luận gì.
* Bị cáo V nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lời khai tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử; Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người vắng mặt trong quá trình hỏi tại phiên tòa.
Đánh giá tính hợp pháp về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Lục Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó cần xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Lục Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam và Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng pháp luật.
Đánh giá chứng cứ:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra điều tra, phù hợp với lời khai của người có nghĩa vụ liên quan, kết quả giám định, vật chứng thu giữ và phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 50 phút ngày 31/12/2022, tại đoạn đường liên thôn thuộc Thôn Đ, xã T, huyện Lục Nam, Nguyễn Văn V có hành vi tàng trữ trái phép 0,445 gam, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện Lục Nam phối hợp Công an tỉnh Bắc Giang và Công an xã Tam Dị, huyện Lục Nam kiểm tra bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi của Nguyễn Văn V đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được qui định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bị cáo tàng trữ chất ma túy là: Methamphetamine, có khối lượng 0,445 gam. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Như vậy Bản Cáo trạng số: 19/CT-VKS ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Nguyễn Văn V là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn V là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự tại địa phương. Methamphetamine là chất ma túy, gây nguy hại cho người sử dụng, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh con người và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn trong xã hội. Bị cáo chỉ vì động cơ, mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân đã cố ý phạm tội. Chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật. Do đó, phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự và có hình phạt tù, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét thấy cần có hình phạt tù giam phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt.
Do bị cáo đang bị tạm giam. Nên cần áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam tính từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản, không có công việc và thu nhập ổn định, sống phụ thuộc vào bố mẹ nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo, cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt.
Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có ký hiệu “QT1” là mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong là ma túy.
- Tịch thu tiêu hủy 01 Coóng thủy tinh.
- Bị cáo bị thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung và 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo. Trong quá trình điều tra đã làm rõ 02 điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo đề nghị được nhận lại 02 điện thoại, nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Các nội dung khác:
- Đối với người đàn ông V khai mua ma túy tên Ịch, quá trình điều tra xác định là Khúc Ngọc Anh, sinh năm 1985 ở tổ dân phố Chàng 1, thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam. Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai nhưng Anh không thừa nhận bán ma túy cho V, ngoài lời khai của V không còn tài liệu chứng cứ nào khác; còn ngôi nhà nơi V mua ma túy quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là của ông Trần Văn Thủy, sinh năm 1957, ông Thủy khai không biết V và không bán ma túy cho V nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý là phù hợp.
- Đối với anh Nguyễn Văn L là người có dụng cụ sử dụng ma túy (theo V khai đến hỏi mượn), quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của V nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha màu trắng BKS 98B3-869.37 thu giữ khi bắt quả tang V, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1964 (là bố đẻ của V). Khi V lấy xe đi ông không biết V dùng đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho ông Khu, ông Khu đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì, nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo định của của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V: 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo (ngày 31/12/2022).
Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Văn V.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có ký hiệu “QT1” là mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong là ma túy.
- Tịch thu tiêu hủy 01 Coóng thủy tinh.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh có số Emai 86565049850197 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu đen có số Emai 356446080452936 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 7a và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; - Công an huyện Lục Nam; - Chi cục THADS huyện Lục Nam; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang; - UBND xã Tam Dị, huyện Lục Nam; - Bị cáo; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Tiến Chỉnh Nguyễn Hữu Huân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giáp Thị Loan THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giáp Thị Loan |