- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình T1 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HS-ST Ngày: 14-7-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Nông Ngọc Hóa.
Bà: Bế Thị Thu Trang.
- Thư ký phiên toà: Bà Bào Kim Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Hứa Thị Hồng Tươi và ông Ma Thế Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2023/TLST-HS, ngày 21 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình T1, (Tên gọi khác: không) sinh ngày 18/8/1988, tại huyện P, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình K và bà Hoàng Thị X; Vợ Lộc Thị H (đã ly hôn) và có 02 con (01 con đã chết); Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 07/02/2007 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” (bản án số: 02/2007/HSST, đã được xóa án tích), Ngày 17/12/2020, bị cáo bị Công an xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau (Quyết định số: 67/QĐ-XPHC, bị cáo đã chấp hành xong), ngày 12/5/2021, bị cáo bị UBND xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi sử dụng kích điện để đánh bắt thủy sản (Quyết định số: 100/QĐ-UBND, quyết định này đã hết thời hiệu thi hành). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2023 đến ngày 05/4/2023 thì được tại ngoại cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đinh Xuân D - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.
* Những người chứng kiến:
- Anh Vi Thành Đ, sinh năm 1990; Vắng mặt.
- Bà Chu Thị B, sinh năm 1965; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 45 phút, ngày 27/3/2023, tại tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, Công an huyện B phối hợp với Công an thị trấn C, huyện B tiến hành bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo Nguyễn Đình T1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác thu giữ tại tay trái của bị cáo Nguyễn Đình T1 đang cầm 02 gói được gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong đều chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là ma túy heroine đã niêm phong trong phong bì ký hiệu Al; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel có bàn phím, màu xanh đen, cũ đã qua sử dụng thu giữ tại túi quần bên trái phía trước của bị cáo Nguyễn Đình T1 đang mặc, niêm phong trong phong bị ký hiệu A2; 03 lọ nước cất chưa qua sử dụng thu giữ tại túi quần bên phải phía trước và 01 xi lanh đã qua sử dụng thu giữ tại túi quần bên trái phía trước của bị cáo Nguyễn Đình T1 đang mặc, niêm phong trong phong bì ký hiệu A3, ngoài ra không phát hiện thu giữ thêm đồ vật gì. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở và các công trình phụ cận có liên quan của bị cáo Nguyễn Đình T1 tại thôn N, xã B, huyện P. Kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến hành vi vi phạm của bị cáo T1.
Tiến hành mở, đóng niêm phong và cân xác định khối lượng số chất màu trắng dạng cục, bột trong phong bì ký hiệu A1 thu được của bị cáo Nguyễn Đình T1 có khối lượng 0,19g (không phẩy một chín gam) đã được niêm phong trong phong bì ký hiệu B1 để gửi đi giám định. Số vật chứng còn lại gồm 01 phong bì ký hiệu A1 đã mở niêm phong, 02 mảnh giấy gói cũ cho vào phong bì mới niêm phong ký hiệu B2.
Tại Kết luận giám định số 110/KL-KTHS ngày 31/3/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục, bột trong phong bì ký hiệu B1 là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,19g (không phẩy một chín gam). Sau giám định mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại 0,14g (không phẩy một bốn gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T63 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.
Bản Cáo trạng số: 28/CT-VKSBB ngày 19/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình T1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đình T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể duy trì quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Đình T1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T1 từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ đi số ngày bị cáo bị tạm giữ.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng cấm tàng trữ, cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu B2, bên trong chứa toàn bộ giấy gói chất ma túy thu được, 01 phong bì niêm phong ký hiệu T63, mặt trước có ghi vụ Nguyễn Đình T1 (1988) tàng trữ trái phép chất ma túy, mặt sau có 03 chữ ký và 02 dấu đỏ hình tròn của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong chứa 01 (một) chiếc xi lanh (bơm kim tiêm) đã qua sử dụng và 03 lọ nước cất chưa quan sử dụng.
- Trả lại 01 (một) điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu Viettel, màu xanh đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng cho bị cáo T1 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo, người bào chữa đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng và không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người chứng kiến. Tuy nhiên, họ đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án của Tòa án. Căn cứ vào Điều Điều 296 của Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về căn cứ định tội, định khung hình phạt:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định: Hồi 14 giờ 45 phút ngày 27/3/2023 tại tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Tổ công tác Công an huyện B phối hợp với Công an thị trấn C, huyện B bắt quả tang bị cáo Nguyễn Đình T1 về hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,19g (không phẩy một chín gam) ma túy, loại Heroine. Mục đích bị cáo T1 mua ma túy về để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến cùng tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được về các tình tiết tiết của vụ án và phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Đình T1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 07/02/2007 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” (bản án số: 02/2007/HSST, đã được xóa án tích), Ngày 17/12/2020, bị cáo bị Công an xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau (Quyết định số: 67/QĐ-XPHC, bị cáo đã chấp hành xong), ngày 12/5/2021, bị cáo bị UBND xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi sử dụng kích điện để đánh bắt thủy sản (Quyết định số: 100/QĐ-UBND, quyết định này đã hết thời hiệu thi hành).
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Trong các giai đoạn tố tụng bị cáo đều "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải", đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mặt khác góp phần tiếp tay làm gia tăng tệ nạn sử dụng ma tuý và tội phạm khác ở địa phương, gây mất an ninh trật tự, khiến quần chúng nhân dân bất bình lên án, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, do đó cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo sống phụ thuộc gia đình, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự để phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Đối với vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu B2, bên trong chứa toàn bộ giấy gói chất ma túy thu được, 01 phong bì niêm phong ký hiệu T63, mặt trước có ghi vụ Nguyễn Đình T1 (1988) tàng trữ trái phép chất ma túy, mặt sau có 03 chữ ký và 02 dấu đỏ hình tròn của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong chứa 01 (một) chiếc xi lanh (bơm kim tiêm) đã qua sử dụng và 03 lọ nước cất chưa quan sử dụng. Những vật chứng này cấm tàng trữ, cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy toàn bộ.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu Viettel, màu xanh đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả cho bị cáo T1.
Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đình T1 có khai mua ma túy của người đàn ông không rõ danh tính, họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T1 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ đi số ngày bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 27/3/2023 đến ngày 05/4/2023).
3. Về vật chứng:
* Tịch thu, tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng, cấm tàng trữ, cấm lưu hành gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu B2, bên trong chứa toàn bộ giấy gói chất ma túy thu được, 01 phong bì niêm phong ký hiệu T63, mặt trước có ghi vụ Nguyễn Đình T1 (1988) tàng trữ trái phép chất ma túy, mặt sau có 03 chữ ký và 02 dấu đỏ hình tròn của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong chứa 01 (một) chiếc xi lanh (bơm kim tiêm) đã qua sử dụng và 03 lọ nước cất chưa quan sử dụng.
* Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đình T1 01 (một) điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu Viettel, màu xanh đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng được niêm phong trong phòng bì ký hiệu A2.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/6/2023 giữa Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn).
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Đình T1.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND huyện Ba Bể ; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Chi cục THADS huyện Ba Bể; - Công an huyện Ba Bể; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - THAHS; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Anh Tuấn |