vanban.org

Bản án 26/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Lan H được ly hôn anh Nguyễn Trọng H1.

Về việc nuôi con: Chị Lê Thị Lan H và anh Nguyễn Trọng H1 có hai con chung là Nguyễn Lê PH Thảo, sinh ngày 14/9/2004 và Nguyễn PH Anh, sinh ngày 19/5/2009. Cháu Nguyễn Lê PH Thảo đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Giao cháu Nguyễn PH Anh cho chị Lê Thị Lan H trực tiếp nuôi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị H và anh H1"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Lan H được ly hôn anh Nguyễn Trọng H1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST
Ngày 04-7-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Bích Thủy

Ông Vũ Văn Khang

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Nhật Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 05/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 323/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 406/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Lan H; nơi ĐKHKTT: Đường Đ, phường Đông Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Đường L, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng H1; nơi ĐKHKTT: Đường Đ, phường Đông Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Đường L, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 18 tháng 10 năm 2022, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị Lan H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2002, chị Lê Thị Lan H và anh Nguyễn Trọng H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa pH và có đăng ký kết hôn ngày 22/9/2002 tại Ủy ban nhân dân phường Phan Bội Châu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2012 thì xảy ra mâu thuẫn vì anh H1 sống không có trách nhiệm và bị vỡ nợ, phải bán nhà đi để trả nợ. Sau khi vỡ nợ, anh H1 thuê nhà trọ sống còn ba mẹ con chị H sống cùng bố mẹ chị H. Đến năm 2020, anh H1 về sống cùng mẹ con chị H nhưng vẫn tiếp tục sống không có trách nhiệm với gia đình, vợ con, H1 toàn không có đóng góp gì về kinh tế. Đến nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, chị H đề nghị Toà án cho chị được ly hôn anh H1.

- Về việc nuôi con: Chị H và anh H1 có hai con chung là Nguyễn Lê PH Thảo, sinh ngày 14/9/2004 và Nguyễn PH Anh, sinh ngày 19/5/2009. Khi ly hôn, cháu Nguyễn Lê PH Thảo đã thành niên nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về cháu Nguyễn PH Anh, chị H đề nghị Tòa án giao cho chị trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H và anh H1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về việc chia tài sản: Chị H và anh H1 không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng anh H1 đều vắng mặt không có lý do, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không ghi được lời khai của anh H1 và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh H1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị H được ly hôn anh H1. Về việc nuôi con, con lớn là Nguyễn Lê PH Thảo, sinh ngày 14/9/2004 đã thành niên nên không xem xét giải quyết; giao con nhỏ là Nguyễn PH Anh, sinh ngày 19/5/2009 cho chị H trực tiếp nuôi. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về việc chia tài sản, chị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Chị H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Chị Lê Thị Lan H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn là quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Trọng H1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh Nguyễn Trọng H1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về áp dụng pháp luật nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân:

Chị Lê Thị Lan H và anh Nguyễn Trọng H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn của chị H và anh H1 qua các tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập thể hiện sau khi kết hôn, anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do anh H1 bị vỡ nợ, không có trách nhiệm với gia đình. Anh chị đã sống ly thân nhiều năm sau đó lại về sống chung. Nay tuy sống chung một nhà nhưng đã ly thân, không còn quan tâm đến nhau về tình cảm và kinh tế. Xét mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình mà ở đó vợ chồng phải biết yêu tH, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, phải được xây dựng trên nền tảng tình cảm, sự nỗ lực từ hai phía của cả vợ và chồng. Trên thực tế, quan hệ hôn nhân của chị H và anh H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

+ Về việc nuôi con:

Chị Lê Thị Lan H và anh Nguyễn Trọng H1 có hai con chung là Nguyễn Lê PH Thảo, sinh ngày 14/9/2004 và Nguyễn PH Anh, sinh ngày 19/5/2009. Cháu Nguyễn Lê PH Thảo đã thành niên nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị H đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn PH Anh cho chị nuôi; cháu PH Anh cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét yêu cầu của chị Lê Thị Lan H phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

+ Về việc chia tài sản:

Chị Lê Thị Lan H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

+ Về án phí:

Chị Lê Thị Lan H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Lan H được ly hôn anh Nguyễn Trọng H1.

2. Về việc nuôi con: Chị Lê Thị Lan H và anh Nguyễn Trọng H1 có hai con chung là Nguyễn Lê PH Thảo, sinh ngày 14/9/2004 và Nguyễn PH Anh, sinh ngày 19/5/2009. Cháu Nguyễn Lê PH Thảo đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Giao cháu Nguyễn PH Anh cho chị Lê Thị Lan H trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác theo quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Lê Thị Lan H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về việc chia tài sản: Chị Lê Thị Lan H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Lan H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006798 ngày 30 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị Lê Thị Lan H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án:

Nguyên đơn chị Lê Thị Lan H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn anh Nguyễn Trọng H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ