- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Cho chị Nguyễn Thị Thanh V được ly hôn anh Phùng Thế H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST Ngày 18 - 9 - 2023 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Duyên và bà Hoàng Thị Hanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Tuyết Mai, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2023/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2023 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh V, sinh năm 2001; nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
Bị đơn: Anh Phùng Thế H, sinh năm 1999; nơi cư trú: Khu 7, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Phùng Thế H kết hôn ngày 01/12/2022, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn chị về sống chung cùng gia đình anh H. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn khoảng 01 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, đến tháng 5/2023 mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh H có đánh đuổi chị nên chị và con chuyển về ở cùng bố mẹ đẻ chị ở thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm hay có trách nhiệm gì với nhau. Trong thời gian ly thân, anh H không có thiện chí để hàn gắn mà thường xuyên nhắn tin chửi chị. Chị xác định tình cảm không còn, vợ chồng không thể hàn gắn được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Về quan hệ giao nuôi con chung: Chị và anh H có 01 con chung là Phùng Ngọc Á, sinh ngày 19/4/2023 hiện đang ở với chị. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết giao cho chị nuôi cháu Á, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phùng Thế H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh H thừa nhận như chị V trình bày về thời điểm kết hôn, quá trình chung sống, thời điểm phát sinh và nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng. Anh xác định vợ chồng đã sống ly thân, từ khi ly thân không ai quan tâm hay có trách nhiệm gì với nhau nhưng do vẫn còn tình cảm với chị V nên anh không đồng ý ly hôn chị V.
Về con chung: Anh và chị V có 01 con chung là cháu Phùng Ngọc Á, sinh ngày 19/4/2023 hiện đang ở cùng với chị V. Ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết giao cho anh nuôi cháu Á, chị V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố Tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh V, cho chị V được ly hôn anh Phùng Thế H; giao cho chị V tiếp tục nuôi cháu Á, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con; chị V phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thanh V có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phùng Thế H; anh H có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, xác định đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Thanh V và anh Phùng Thế H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, chị V và anh H đều xác định: Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, anh H có đánh và đuổi chị V, chị V cùng con chung của anh chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở từ tháng 5/2023, anh chị sống ly thân nhau từ đó đến nay, trong thời gian ly thân không ai quan tâm và có trách nhiệm gì với nhau. Anh H cho rằng tình cảm vẫn còn nhưng anh không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm đồng thời quá trình giải quyết vụ án anh H có đến Tòa án để viết bản tự khai, sau đó anh H đều vắng mặt, chị V vẫn kiên quyết ly hôn nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Điều đó, chứng tỏ hôn nhân của chị V và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị V, cho chị V ly hôn anh H là phù hợp.
. Về quan hệ giao nuôi con chung: Chị V và anh H có 01 con chung là Phùng Ngọc Á, sinh ngày 19/4/2023 hiện đang ở cùng chị V. Ly hôn, chị V và anh H đều đề nghị Tòa án giải quyết giao cho nuôi cháu Á và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy: Nguyện vọng nuôi con của chị V và anh H là hoàn toàn tự nguyện, anh chị đều có chỗ ở và có thu nhập, đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiên, do cháu Á còn nhỏ (dưới 12 tháng tuổi), cần sự nuôi dưỡng, chăm sóc trực tiếp của người mẹ nên giao cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng cháu Á là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung chị V và anh H đều không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về quan hệ tài sản: Chị V không yêu cầu giải quyết; quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai anh H không yêu cầu giải quyết, sau đó anh H vắng mặt không đến Tòa án để làm việc nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này mà sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu của đương sự.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh V nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:
1. Cho chị Nguyễn Thị Thanh V được ly hôn anh Phùng Thế H.
2. Giao cho chị Nguyễn Thị Thanh V tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phùng Ngọc Á, sinh ngày 19/4/2023. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Không ai được cản trở việc thăm non, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
Các đương sự có quyền yêu cầu về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và yêu cầu về cấp dưỡng.
3. Chị Nguyễn Thị Thanh V phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu số: 0003465, ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tam Dương; - Chi cục THADS huyện Tam Dương; - UBND xã Đ, huyện T; - Các đương sự; - Lưu HSVA, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Thu |