- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vương Thị Hồng N - Nguyễn Quang N2"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Vương Thị Hồng N được ly hôn anh Nguyễn Quang N2.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HNGĐ - ST Ngày: 05-4-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thao
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Châm
Ông Hoàng Đình Văn
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn May – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 22/2023/TLST-HNGĐ ngày 01-02-2023 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03-3-2023 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số: 10/2023/TBXX ngày 22-3-2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vương Thị Hồng N, sinh năm 1999
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quang N2, sinh năm 1991
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái.
Các đương sự đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vương Thị Hồng N trình bày:
Chị và anh Nguyễn Quang N2 tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 27-10-2017 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Minh Xuân, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, anh N2 thường uống rượu và có hành vi chửi xúc phạm gia đình chị. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hòa giải nhưng không có kết quả. Chị và anh N2 đã ly thân không còn quan tâm đến nhau. Chị N xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh N2.
Về con chung: Chị và anh N2 có hai con chung là Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 17-8-2016 và Nguyễn Thị Ngọc L, sinh ngày 12-01-2020. Ly hôn chị đồng ý để anh N2 trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, chị sẽ cấp dưỡng tiền nuôi mỗi con là 1.000.000 đồng/ 1 tháng (hai con là 2.000.000 đồng/1 tháng).
Về chia tài sản chung, nợ chung : Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn là anh Nguyễn Quang N2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến thể hiện trong hồ sơ vụ án.
- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để giải quyết vụ án, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
+ Về hôn nhân: Chị Vương Thị Hồng N được ly hôn anh Nguyễn Quang N2.
+ Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 17-8-2016 và Nguyễn Thị Ngọc L, sinh ngày 12-01-2020 cho anh Nguyễn Quang N2 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.
Chị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con là 1.000.000 đồng/ 1 tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi.
+ Về án phí: Chị N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và án phí về cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn anh Nguyễn Quang N2 có nơi cư trú tại Thôn Nà Khà, xã Minh Xuân, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
Tại phiên tòa, Chị N vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh N2 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về hôn nhân: Chị Vương Thị Hồng N và anh Nguyễn Quang N2 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Minh Xuân, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái ngày 27-10-2017 là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của đương sự và tài liệu có trong hồ sơ cho thấy, sau khi kết hôn Chị N và anh N2 chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu mẫu, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải nhưng không có kết quả. Chị N và anh N2 đã ly thân từ tháng 6-2022 không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị N và anh N2 đã trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị N, cho Chị N được ly hôn anh N2.
Về con chung: Chị N và anh N2 có hai con chung là Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 17-8-2016 và Nguyễn Thị Ngọc L, sinh ngày 12-01-2020 hiện hai con chung đều đang được anh N2 trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn Chị N đồng ý để anh N2 trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện Chị N và anh N2 đã ly thân, con chung đang được anh N2 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo quyền, lợi ích và đảm bảo sự ổn định cuộc sống của các con nên giao hai con chung cho anh N2 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N nhận cấp dưỡng tiền nuôi mỗi con là 1.000.000 đồng/1 tháng (hai con là 2.000.000 đồng/1 tháng). Xét thấy việc Chị N tự nguyện nhận chịu nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là hoàn tự nguyện và phù hợp với nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con được pháp luật quy định nên được chấp nhận. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và án
phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về hôn nhân: Chị Vương Thị Hồng N được ly hôn anh Nguyễn Quang N2.
2. Về con chung: Giao hai con là Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 17-8-2016 và Nguyễn Thị Ngọc L, sinh ngày 12-01-2020 cho anh Nguyễn Quang N2 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.
Chị Vương Thị Hồng N phải cấp dưỡng tiền nuôi mỗi con là 1.000.000 đồng /1 tháng (hai con là 2.000.000 đồng/1 tháng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa khi thi hành án xong thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Vương Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Chị N được trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ly hôn đã nộp theo biên lai số: AA/2021/0003428 ngày 01-02-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Chị N còn phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) đồng tiền án phí dân sự về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện Lục Yên; - CCTHADS huyện Lục Yên; - UBND xã Minh Xuân; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thao |