vanban.org

Bản án 26/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 238, 235, 264, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Thương T được ly hôn chị Vi Thị Y. Về nuôi con chung: Xử giao chị Vi Thị Y nuôi con chung là Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 02/01/2016; không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con; anh T được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 238, 235, 264, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST
Ngày 12-5-2023
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Trọng Khôi

Các hội thẩm nhân dân: Ông: Đoàn Văn Cương

Bà Ngô Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 12/5/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-DS ngày 24/4/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thương T, sinh năm 1990 (vắng mặt có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp 7, xã K, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Chị Vi Thị Y, sinh năm 1990 (vắng mặt có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Nguyễn Thương T trình bày: Anh kết hôn với chị Vi Thị Y ngày 15/6/2015, trước khi cưới có được tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, mặt khác tập quán vùng miền, xa cách địa lý, nên vợ chồng thường bất đồng quan điểm. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ cuối năm 2017 mỗi người ở một nơi. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn anh xin được ly hôn chị Y để giải phóng cho cả hai bên.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 02/01/2016. Hiện con đang ở với chị Y cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường, nay ly hôn vợ chồng thỏa thuận để chị Y nuôi con, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản gì, nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Vi Thị Y trình bày: Anh T trình bày về thời gian kết hôn và quá trình mâu thuẫn là đúng, nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn. Chị đồng ý ly hôn anh T. Về con chung: Như anh T trình bày là đúng, nay ly hôn chị xin nuôi con, không yêu cầu anh T góp cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản, nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay cả anh T, chị Y đều vắng mặt và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân, các đương sự trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay cả anh T, chị Y đều vắng mặt và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Đề nghị xét xử cho anh T được ly hôn chị Y; Về con chung: Giao chị Y nuôi con chung là Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 02/01/2016. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản: Cả anh T và chị Y đều không đề nghị giải quyết, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết; anh T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngoài ra còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp, phạm vi khởi kiện, thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng: Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Nguyễn Thương T. Khởi kiện xin ly hôn đối với chị Vi Thị Y; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nội dung: Anh T xin được ly hôn chị Y, đề nghị Tòa án giải quyết về con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Như vậy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

Thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay cả anh T, chị Y đều vắng mặt và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Nên HĐXX áp dụng Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án theo pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thương T kết hôn với chị Vi Thị Y ngày 15/6/2015, trên cơ sở tự nguyện hợp pháp, đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận đến cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không xây dựng được hạnh phúc gia đình. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ cuối năm 2017. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn cả anh T và chị Y đều thiết tha xin được ly hôn, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay cả anh T và chị Y đều vắng mặt và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã diễn ra căng thẳng, tỉnh cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy cần xử cho anh T được ly hôn chị Y. Xét là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống anh T và chị Y sinh được một con chung là Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 02/01/2016, hiện cháu đang ở cùng chị Y, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Nay ly hôn các bên thỏa thuận để chị Y nuôi con, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, cháu Đ cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Tuy nhiên cả anh T và chị Y đều vắng mặt tại phiên tòa và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. HĐXX xét thấy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con trẻ cần giao chị Y nuôi con; anh T được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này, xét là phù hợp Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nếu sau này có sảy ra tranh chấp về thay đổi nuôi con, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

Về chia tài sản: Quá trình giải quyết vụ án cả anh T và chị Y đều không đề nghị Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa hôm nay, cả anh T và chị Y đều vắng mặt và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có sảy ra tranh chấp về tài sản, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Anh T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 238, 235, 264, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Thương T được ly hôn chị Vi Thị Y.

2. Về nuôi con chung: Xử giao chị Vi Thị Y nuôi con chung là Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 02/01/2016; không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con; anh T được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.

3/ Về án phí: Anh Nguyễn Thương T phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005300 ngày 07/4/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt án vắng mặt.

Án xử sơ thẩm công khai./.

Cỡ chữ