vanban.org

Bản án 26/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lù Thị G ly hôn với anh Lương Công Về con chung: Giao cháu Lương Quỳnh T1, sinh ngày 30/4/2021 cho Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn giữa chị Lù Thị G với anh Lương Công T"
  • Tòa quyết gì? 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢ O YÊN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST
Ngày 27/6/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚ C CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

TÒA Á N NHÂN DÂN HUYỆN BẢ O YÊN, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phá n - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Bình

2. Bà Phạm Thị Dung

Thư ký phiên toà : Bà Nguyễn Thị Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên tham gia phiên tòa: Bà

Hoàng Thị Trịnh - Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Ngày 27 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện BảoYên, tỉnh

Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vu ̣ án thu ̣ lý số 41/2023/TLST-HNGĐ ngày 21/ 3/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ ań ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31/5/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lù Thị G - Sinh năm 1995.

Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Lương Công T - Sinh năm 1995.

Địa chỉ: Bản R, xã N, huyện B1, tỉnh Lào Cai.

Vắng mă ̣t tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 15/3/2023 và bản tự khai ngày 21/3/2023

của chị Lù Thị G thì chị và anh Lương Công T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện B1, tỉnh Lào Cai vào ngày 25/9/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc khoảng 06 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính tình không hợp hay bất đồng quan điểm trong sinh hoạt và cuộc sống. Mặt khác anh Lương Công T là người gia trưởng, không quan tâm đến gia đình vợ con nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng sống và ly thân từ cuối tháng 5/2021 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Lù Thị G đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lương Công T.

Đối với anh Lương Công T, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án xác

minh anh sinh sống tại Bản R, xã N, huyện B1 nhưng hiện nay vắng mặt tại địa phương không rõ thời điểm trở về nên Tòa án đã niêm yết đầy đủ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên hết thời hạn niêm yết anh Lương Công T không có văn bản trả lời ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và không có mặt tại Tòa án theo thông báo.

Về con chung: Chị Lù Thị G xác nhận chị và anh Lương Công T có 01 con

chung là cháu Lương Quỳnh T1, sinh ngày 30/4/2021, cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang ở cùng với chị. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành và không yêu cầu anh Lương Công T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ chung: Chị Lù Thị G xác nhận không có tài sản

chung, không nợ ai và không cho ai vay mượn gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với vụ án này, nguyên đơn cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng cứ theo

yêu cầu của Tòa án, bị đơn không cung cấp tài liệu chứng cứ gì. Mặt khác Tòa án cũng không tiến hành hòa giải được về quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng chăm sóc con chung vì anh Lương Công T vắng mặt.

Tại phiên toà hôm nay chị Lù Thị G vẫn giữ nguyên yêu cầu nguyện vọng

của mình, còn anh Lương Công T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Như vậy cần xét xử vắng mặt anh là phù hợp với điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên phát biểu quan điểm: Quá

trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật về tố tụng và đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mắt tại phiên tòa sơ thẩm.

Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 56,

57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, xử cho chị Lù Thị G ly hôn anh Lương Công T; Về con chung: Xử giao cháu Lương Quỳnh T1, sinh ngày 30/4/2021 cho chị Lù Thị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Anh Lương Công T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; Về án phí: chị Lù Thị G phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra

tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngày 15/3/2023, chị Lù Thị G khởi kiện

yêu cầu về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn đối với anh Lương Công T nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Hiện anh Lương Công T đang cư trú

tại Bản R, xã N, huyện B1, tỉnh Lào Cai nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết các thông báo, giấy triệu

tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật cho bị đơn. Tòa án đã mở phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 31/5/2023, anh Lương Công T vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa và tiếp tục niêm yết văn bản tố tụng cũng như giấy triệu tập đến phiên tòa ngày hôm nay. Tuy nhiên anh Lương Công T vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử cần xét xử vắng mặt anh là phù hợp với điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2]. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lù Thị G và anh Lương Công T kết hôn trên cơ

sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện B1, tỉnh Lào Cai vào ngày 25/9/2020, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc khoảng 06 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính tình không hợp hay bất đồng quan điểm trong sinh hoạt và cuộc sống. Mặt khác anh Lương Công T là người gia trưởng, không quan tâm đến gia đình vợ con nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng sống và ly thân từ cuối tháng 5/2021 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị Lù Thị G đối với anh Lương Công T là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị Lù Thị G xác nhận chị và anh Lương Công T có 01 con

chung là cháu Lương Quỳnh T1, sinh ngày 30/4/2021, hiện cháu đang ở cùng với chị.

Căn cứ vào điều kiện thu nhập của chị Lù Thị G, mặt khác xuất phát từ

quyền lợi về mọi mặt, đảm bảo sự ổn định về tâm lý, cũng như sinh hoạt của cháu nên Hội đồng xét xử cần giao cháu cho chị Lù Thị G tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Anh Lương Công T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ chung: Chị Lù Thị G xác nhận không có tài sản

chung, không nợ ai và không cho ai vay mượn gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[3]. Về án phí: Chị Lù Thị G phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy

định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều

228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia

đình;

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lù Thị G ly hôn với anh Lương Công

T.

2. Về con chung: Giao cháu Lương Quỳnh T1, sinh ngày 30/4/2021 cho

chị Lù Thị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lương Công T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Sau khi ly hôn anh Lương Công T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc

con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lù Thị G phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền

án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001621 ngày 21/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; Chị Lù Thị G đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên

đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án; Nơi nhận:

̀

̉

Cỡ chữ