vanban.org

Bản án 26/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chị Nguyễn Thuý X được ly hôn anh Đồng Văn D.

Về con chung:Giao cháu Đồng Văn D1, sinh ngày 19 tháng 12 năm 2008 cho chị Nguyễn Thuý X nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thúy X và Nguyễn Văn D"
  • Tòa quyết gì? Chị Nguyễn Thuý X được ly hôn anh Đồng Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST
Ngày 24-4-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thu Lan;

Ông Nguyễn Văn Thắng.

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Đăng Bùi - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 174/2022/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 253/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 31 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 305/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 17 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thuý X; trú tại: Thôn A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Đồng Văn D; trú tại: Thôn A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 12 năm 2022, bản tự khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thuý X trình bày:

Chị và anh Đồng Văn D tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã A, xã A, thành phố Hải Phòng vào ngày 18 tháng 5 năm 1998. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại thôn A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận thời gian đầu, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách không hợp, quan điểm sống bất đồng và anh D sống không có trách nhiệm với vợ con, chơi bời cờ bạc làm ảnh hưởng đến gia đình. Chị X nhiều lần tham gia góp ý nhưng không có kết quả. Cũng trong năm 2021 chị và anh D sống ly thân đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Nay chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không có khả năng hàn gắn nên đề nghị ly hôn anh D. Về con chung: Chị và anh D có 02 con chung là Đồng Văn D2, sinh ngày 08 tháng 11 năm 1998; Đồng Văn D1, sinh ngày 19 tháng 12 năm 2008. Cháu Đồng Văn D2 đã đủ 18 tuổi nên chị X không yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề nuôi dưỡng. Ly hôn, chịX nhận nuôi con Đồng Văn D1 và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôicon. Về tài sản chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Đồng Văn D đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và nhiều lần tống đạt Giấy triệu tập hợp lệ để đến Tòa án giải quyết vụ án, nhưng đều vắng mặt, không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã đảm bảo đúng quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thuý X được ly hôn anh Đồng Văn D. Về con chung: Giao con chung Đồng Văn D1, sinh ngày 19 tháng 12 năm 2008 cho chị X nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, chị X không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Chị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩmtra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn là anh Đồng Văn D; trú tại: Thôn A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thuý X vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Đồng Văn D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thuý X và anh Đồng Văn D.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thuý X và anh Đồng Văn D kết hôn có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã A, xã A, thành phố Hải Phòng vào ngày 18 tháng 5 năm 1998 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn giữa chị X và anh D là do tính cách không hợp, quan điểm sống bất đồng, anh D sống không có trách nhiệm với vợ con, chơi bời cờ bạc làm ảnh hưởng đến gia đình. Năm 2021, vợ chồng sống ly thân đến nay, không ai quan tâm đến ai. Quá trình xác minh chính quyền địa phương, hai bên gia đình đều xác nhận mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị X xin ly hôn anh D là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Chị và anh D có 02 con chung là Đồng Văn D2, sinh ngày 08 tháng 11 năm 1998; Đồng Văn D1, sinh ngày 19 tháng 12 năm 2008. Cháu Đồng Văn D2 đã đủ 18 tuổi nên chịX không yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề nuôi dưỡng. Ly hôn, chịX nhận nuôi con Đồng Văn D1 và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Anh D trong quá trình giải quyết vụ án nhiều lần được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Toà án nên không có ý kiến về vấn đề con chung. Xét, từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu D1 vẫn sống với chị X. Chị X làm nghề buôn bán có thu nhập 10.000.000đ/ 1 tháng và có nơi ở ổn định. Cháu Đồng Văn D1 có ý kiến được ở với mẹ. Do đó, để đảm bảo môi trường ổn định cho sự phát triển của cháu và cũng phù hợp với điều kiện thực tế nên căn cứ quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình giao cháu Đồng Văn D1 cho chịX tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Về vấn đề cấp dưỡng nuôicon chung,chịX không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thuý X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

1. Chị Nguyễn Thuý X được ly hôn anh Đồng Văn D.

2. Về con chung:Giao cháu Đồng Văn D1, sinh ngày 19 tháng 12 năm 2008 cho chị Nguyễn Thuý X nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thuý X phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thuý X đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001418 ngày 26 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thuý X đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Nguyễn Thuý X và anh Đồng Văn D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ