vanban.org

Bản án 26/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D

Xác định ông Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn S, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa là cha đẻ của cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 02/12/2016 theo Giấy khai sinh số 11, do Ủy ban nhân dân xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 10/01/2017. Ông Nguyễn Văn D, bà Lê Thị T và ôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19/4/2023
V/v: “Tranh chấp về xác định cha cho con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hơn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Minh

2. Ông Nguyễn Thanh Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đạc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 553/2022/TLST-HNGĐ ngày 02/11/2022 về việc: “Tranh chấp xác định cha cho con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22a/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/3/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20/3/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D – Sinh năm 1980

Địa chỉ: Thôn S, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa

Bị đơn: Bà Lê Thị T – Sinh năm 1980

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1979

Địa chỉ: Thôn 03, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ông D, bà T và ông K vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện,cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn D trình bày: Ông có quan hệ quên biết với bà Lê Thị T từ năm 2016, sau đó cả hai có quan hệ tình cảm với nhau. Thời gian này bà T và ông Nguyễn Hoàng K đang có quan hệ vợ chồng chưa ly hôn. Trong thời gian ông có quan hệ với bà T thì bà T có thai và sinh được cháu trai tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 02/12/2016. Thời điểm này do bà T và ông K chưa ly hôn nên trong giấy khai sinh của cháu K thể hiện ông Nguyễn Hoàng K là cha của cháu K. Ngày 03/5/2018, bà T và ông K ly hôn theo Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 141/QĐST-HNGĐ ngày 03/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Theo Quyết định trên thì bà Lê Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng người con tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 02/12/2016, ông Nguyễn Hoàng K không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho bà T.

Theo phiếu kết quả phân tích AND ngày 22/6/2022 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền chi nhánh phía nam kết luận: Ông Nguyễn Văn D và cháu Nguyễn Đăng K có quan hệ huyết thống cha-con.

Nay ông yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xác định cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 02/12/2016 là con đẻ của ông.

*/Quá trình giải quyết vụ án bà Lê Thị T trình bày: Bà và ông Nguyễn Hoàng K là vợ chồng. Trong thời gian là vợ chồng, bà có quan hệ tình cảm với ông Nguyễn Văn D và sinh ra cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 02/12/2016. Ngày 03/5/2018, bà và ông K ly hôn theo Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 141/QĐST-HNGĐ ngày 03/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Theo Quyết định trên thì bà được quyền trực tiếp nuôi dưỡng người con tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 02/12/2016, ông Nguyễn Hoàng K không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho bà.

Theo phiếu kết quả phân tích AND ngày 22/6/2022 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền chi nhánh phía nam kết luận: Ông Nguyễn Văn D và cháu Nguyễn Đăng K có quan hệ huyết thống cha-con.

Do vậy bà yêu cầu Tòa án xác định cháu K là con đẻ của Ông D.

*/Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Hoàng K trình bày: Theo phiếu kết quả phân tích AND ngày 22/6/2022 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền chi nhánh phía nam kết luận: Ông Nguyễn Văn D và cháu Nguyễn Đăng K có quan hệ huyết thống cha-con. Do vậy ông yêu cầu Tòa án xác định cháu K là con đẻ của Ông D.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã ra thông báo về phiên hòa giải nhưng Ông D có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Theo Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn D có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết xác định cha cho con với bị đơn bà Lê Thị T. Đây là tranh chấp về “ Xác định cha cho con”. Bị đơn bà Lê Thị T có địa chỉ tại Thôn T, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc. Theo quy định tại khoản 4 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Về sự vắng mặt của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D, bị đơn bà Lê Thị T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng K tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa. Bởi lẽ, Ông D, bà T và ông K đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với Ông D, bà T và ông K.

Đối với việc tham gia phiên tòa của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc: Trong vụ án này, Tòa án không phải thu thập chứng cứ nên theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự, thì vụ án không cần phải có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của Ông D, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà T và ông K là vợ chồng hợp pháp. Trong thời gian là vợ chồng, bà T có quan hệ tình cảm với ông Nguyễn Văn D và sinh ra cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 02/12/2016. Ngày 03/5/2018, bà T và ông K ly hôn theo Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 141/QĐST-HNGĐ ngày 03/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Theo Quyết định trên thì bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng người con tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 02/12/2016, ông Nguyễn Hoàng K không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho bà.

Theo phiếu kết quả phân tích AND ngày 22/6/2022 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền chi nhánh phía nam kết luận: Ông Nguyễn Văn D và cháu Nguyễn Đăng K có quan hệ huyết thống cha-con

Trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Hoàng K cũng xác định trong thời gian chung sống vối bà T, bà T có quan hệ với Ông D và sinh ra cháu K, mặc dù được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nhưng cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 02/12/2016 không phải là con đẻ của ông mà là con đẻ của ông Nguyễn Văn D.

Từ những nhận định trên thấy lời khai của các đương sự phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử nhận thấy đủ căn cứ để xác định ông Nguyễn Văn D là cha đẻ của cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 02/12/2016. Do đó yêu cầu của ông Nguyễn Văn D là có căn cứ, phù hợp thực tế và quy định của pháp luật nên được chấp nhận

Về án phí: Căn cứ Điểm b, Khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo) ông Nguyễn Văn D thuộc trường hợp được miễn nộp án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 47; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 89, Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm b, Khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D

Xác định ông Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn S, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa là cha đẻ của cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 02/12/2016 theo Giấy khai sinh số 11, do Ủy ban nhân dân xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 10/01/2017.

Ông Nguyễn Văn D, bà Lê Thị T và ông Nguyễn Hoàng K được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cải chính hộ tịch cho cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 00/12/2016 theo Giấy khai sinh số 11, do Ủy ban nhân dân xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 10/01/2017 theo quy định pháp luật.

2.Về án phí: Ông Nguyễn Văn D được miễn nộp án phí. Hoàn lại cho ông Nguyễn Văn D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011180 ngày 02/11/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hàm Thuận Bắc. Bà Lê Thị T và ông Nguyễn Hoàng K không phải chịu án phí.

3. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ