- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông S - anh T vay tài sản"
- Tòa quyết gì? 2 Xử: Buộc anh Trần Văn T, chị Hà Thị N phải trả cho ông Hà Văn S số tiền 582.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:26/2023/ DS-ST Ngày: 15 /6/2023 V/v:“Tranh chấp hợp đồng vay tà i sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh, bà Ngô Thị Mai .
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thi ̣ Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạng Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Ma ̣nh Sy - Kiểm sã
́t viên.
Trong ngày 15/6/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2023/TLST-DS ngày 17/4/2023 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản
; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2023/QĐXX-ST ngày 29 tháng 5 năm 2023;
* Nguyên đơn: Ông Hà Văn S, sinh năm 1948 - Có mặt
Đi ̣a chi: Thôn C, xã T, huyê ̣̉
n La, tỉnh Bắc Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Đứ c T
- Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số 512, đường Lê L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. – Xin vắng mă ̣t.
* Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1987 - Có mặt
Đi ̣a chi: Tổ dân phố Đ, thị trấn V, huyê ̣n L, tỉnh Bắc Giang.
̉
* Ngƣời có quyền lợi N vụ liên quan:
- Bà Hà Thị K, sinh năm 1952 (vợ ông S) - Xin vắng mă ̣t
Đi ̣a chi: Thôn C, xã T, huyê ̣̉
n L, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Hà Thị N, sinh năm 1986 (vợ anh T) - Có mặt
Đi ̣a chi: Tổ dân phố Đ, thị trấn V, huyê ̣n L, tỉnh Bắc Giang.
̉
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn ông Hà Văn S trình bày: Do có mối quan hê ̣ họ hàng quen biết nên ông cho cho anh Trần Văn T vay tổng số tiền 540.000.000 đồng ( Năm trăm bốn mươi triê ̣u đồng). Cụ thể các lần vay:
Ngày 14/8/2021 dương li ̣ch, ông cho anh T vay số tiền 350.000.000 đồng.
Ngày 13/01/2022 dương li ̣ch, ông cho anh T vay số tiền 70.000.000 đồng.
Ngày 17/02/2022 dương li ̣ch, ông cho anh T vay số tiền 120.000.000 đồng.
Anh T vay tiền mục đích để phát triển kinh tế . Khi vay lãi suất thoả thuận miệng 01%/tháng, thờ i ha ̣n vay tiền có thỏa thuâ ̣n miê ̣ng vớ i nhau khi nào ông cần tiền thi
̀ ông báo trướ c cho anh T nử a tháng để anh T thu xếp trả . Khi vay tiền , anh T là ngườ i nhâ ̣n tiền và ký vào giấy vay tiền . Khi nhâ ̣n tiền thi chỉ có anh T, không có
̀ vợ anh T đi cùng. Đến thời hạn thanh toán , anh T chưa trả ông mô ̣t phần tiền gốc nào, nhưng anh T đa trã ̉ cho ông tiền lai đến ngã
̀y 17/3/2022, cụ thể trả bao nhiêu tiền lai thĩ
ông không nhớ vi cũng không ghi chép sổ sách . Đến cuối tháng 3/2022
̀
̀ thì ông đến nhà đòi tiền anh T nhiều lần nhưng anh T vẫn trốn tránh không trả . Nay, ông đề nghị Toà án nhân dân huyện Lạng Giang buộc anh Trần Văn T phải trả số tiền gốc là 540.000.000đ (Năm trăm bốn mươi triê ̣u đồng) và tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm từ ngày 18/3/2022 đến khi xét xử sơ thẩm.
Tại phiên toà hôm nay ông yêu cầu chị N vợ anh T cũng có N vụ cùng anh T thanh toán cho ông tiền nợ gốc và lãi vì mục đích vay để phát triển kinh tế gia đình, sau ngày 17/03/2022 đến nay thì vợ chồng anh T có trả thêm cho ông số tiền 25 triệu đồng, thời gian cụ thể ông không nhớ, nay ông đồng ý trừ vào tiền lãi sau khi Toà án tính lãi đến ngày hôm nay 15/06/2023. Số tiền cho vay là ông vay của người khác rồi cho anh T vay lại, không phải là tiền chung của vợ chồng ông,vợ ông không liên quan.
Tại phiên toà Luật sư trợ giúp pháp lý cho ông Hà Văn S xin vắng mặt, ông S đề nghị xét xử vắng mặt Luật sư.
* Bị đơn anh Trần Văn T trình bày: Gia đinh anh và ông Hà Văn S là chỗ
̀ họ hàng quen biết nên anh có vay tiền của ông S 03 lần:
Ngày 14/8/2021 dương li ̣ch, ông S cho anh vay số tiền 350.000.000 đồng.
Ngày 13/01/2022 dương li ̣ch, ông Scho anh vay số tiền 70.000.000 đồng.
Ngày 17/02/2022 dương li ̣ch, ông S cho anh vay số tiền 120.000.000 đồng.
Anh vay tiền mu ̣c đich để phát triển kinh tế gia đinh . Khi vay lai suẫ
́ t thoả
́
̀ thuâ ̣n miê ̣ng là 1.300 đồng – 3.000 đồng/1 triê ̣u/ngày. Về thờ i ha ̣n trả thi thoả thuâ ̣n
̀ miê ̣ng đến khi nào ông S cần tiền thi báo trướ c cho anh mô ̣t khoảng thờ i gian để
̀
anh thu xếp trả nợ . Khi vay tiền thi ông S là người viết giấy , còn anh là người ký
̀
vào giấy vay tiền . Đến nay, anh đa trã ̉ tiền lai cho ông S nhiều lẫ
̀n đến hết ngày 17/3/2022, cụ thể trả bao nhiêu thì anh không nhớ vì anh không có tài liệu chứng minh, còn số tiền gốc anh vẫn chưa trả được cho ông S. Nay ông S khở i kiê ̣n anh trả số tiền gốc 540.000.000 đồng và tiền lai theo theo mữ
́ c lai suẫ
́t 10%/năm thì anh đồng ý nhưng do điều kiê ̣n kinh tế khó khăn làm ăn thua lỗ, tiền lai phã
̉i đóng nhiều nên anh xin trả dần mỗi tháng khoảng 7-8 triê ̣u đồng vào tiền gốc , còn tiền lãi sau khi trả hết tiền gốc thi tôi trả tiền lai.̃
̀
Tại phiên toà hôm nay anh T đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông S, sau ngày 17/03/2023 đến nay vợ chồng anh có trả thêm ông S được 25.000.000đồng, anh đồng ý trừ vào tiền lãi như ông S trình bày. Việc vay tiền sử dụng cho kinh doanh gia đình. Vợ chồng anh sẽ có trách nhiệm trả ông S, nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên anh sẽ trả dần tiền gốc cho ông S.
*Ngƣời có quyền lợi N vụ liên quan bà Hà Thị K trình bày: Viê ̣c ông S cho anh T vay tiền thi bà không biết vi khi cho vay ông S cũng không nói chuyện với bà
̀
̀ và là tiền riêng của ông S nên bà không liên quan đến vu ̣ án, bà đề nghị không triệu tâ ̣p bà tham gia tố tu ̣ng và đề nghi ̣ Toà án giải quyết theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t . Do điều kiê ̣n sứ c khoẻ yếu nên bà xin vắng mă ̣t trong toàn bô ̣ quá trinh giải quyế t vu ̣
̀ án.
*Ngƣời có quyền lợi N vụ liên quan chị Hà Thị N trình bày: Do có mối quan hê ̣ ho ̣ hàng quen biết nên chồng
chị (anh T) có vay của ông S số tiền 350.000.000 đồng. Mục đích vay để phát triển kinh tế gia đinh, khi vay lai suẫ
́t thoả
̀ thuâ ̣n miê ̣ng 1.300 đồng/triê ̣u/ngày. Số tiền lai thĩ
anh T là người trả cho ông S.
̀ Còn những khoản vay khác thì anh T có nói với chị là vay thêm tiền của ông S nhưng cu ̣ thể số tiề n bao nhiêu, lãi suất thoả thuâ ̣n thế nào thi chi ̣ không nắm được
̀ vì kinh tế đều do anh T đảm nhiê ̣m . Nay ông S khở i kiê ̣n anh trả số tiền gốc 540.000.000 đồng và tiền lai theo theo mữ
́ c lai suẫ
́t 10%/năm thi chị đồng ý và đề
̀ nghị Toà án xem xét giải quyết quy định pháp luật.
Tại phiên toà hôm nay chị đồng ý cùng với anh T sẽ có trách nhiệm thanh toán tiền cho ông S, vì anh T vay tiền để kinh doanh cho gia đình, chị đồng ý với ý kiến của anh T.
Quá trình giải quyết vụ án anh T, chị N có đơn đề nghi ̣ không tiến hành hòa giải nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn thực hiện đúng quyền và N vụ của mình.
- Về quan điểm giải quyết vu ̣ án : Chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của ông Hà Văn S: Buô ̣c anh Trần Văn T phải trả cho ông S số tiền gốc là 540.000.000 (Năm trăm bốn mươi triê ̣u đồng) và tiền lai theo mữ
́ c lãi suất 10%/năm từ ngày 18/3/2022 đến khi xét xử sơ thẩm.
Về án phí: anh Trần Văn T chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi thảo luận, nghị án Hội đồng xét xử xét thấy:
[1]. Đơn khởi kiện của ông S cùng các tài liệu nộp kèm theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Quá trình giải quyết vụ án bà Kiệm có ý kiến xét xử vắng mă ̣t. Luật sư trợ giúp pháp lý cho ông S xin vắng mặt Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Kiê ̣m và Luật sư trợ giúp pháp lý cho ông S.
. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ giữa ông Hà Văn S và anh Trần Văn T là quan hệ dân sự giữa cá nhân với cá nhân, các bên đã không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục tại Tòa án. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật và thẩm quyền được qui định tại các Điều 26; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4.Về thời hiệu khởi kiện và quan hệ pháp luật tranh chấp thì thấy:
Trong các giấy vay tiền có thể hiện ông Hà Văn S cho anh T vay tổng số tiền 540.000.000 đồng ( Năm trăm bốn mươi triê ̣u đồng). Cụ thể các lần vay:
Ngày 14/8/2021 dương li ̣ch, ông cho anh T vay số tiền 350.000.000 đồng.
Ngày 13/01/2022 dương li ̣ch, ông cho anh T vay số tiền 70.000.000 đồng.
Ngày 17/02/2022 dương li ̣ch, ông cho anh T vay số tiền 120.000.000 đồng.
Khi viết giấy các bên không thoả thuâ ̣n về thờ i ha ̣n trả , không thoả thuâ ̣n về lãi suất , tại Toà án các bên đều thừa nhận trả lãi đến ngày
17/3/2022. Đến ngày 12/4/2023 ông S nộp đơn khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu anh T phải trả số tiền 540.000.000đ và tiền lãi theo lãi xuất 10%/ năm kể từ ngày 18/03/2022 cho đến khi xét xử sơ thẩm. Đây là "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản", theo quy định tại khoản 1 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Trong các giấy vay tiền có thể hiện ông S có cho anh anh T vay tổng số tiền 540.000.000 đồng ( Năm trăm bốn mươi triê ̣u đồng). Cụ thể các lần vay:
Ngày 14/8/2021 dương li ̣ch, ông cho anh T vay số tiền 350.000.000 đồng.
Ngày 13/01/2022 dương li ̣ch, ông cho anh T vay số tiền 70.000.000 đồng.
Ngày 17/02/2022 dương li ̣ch, ông cho anh T vay số tiền 120.000.000 đồng.
Khi vay tiền, anh T là ngườ i nhâ ̣n tiền và ký vào giấy vay tiền. Quá trình giải quyết vụ án, anh T cũng thừa nhận có vay tiền của ông S làm 3 lần, vớ i tổng số tiền 540.000.000 đồng, nhưng do điều kiê ̣n kinh tế khó khăn chưa trả được nên anh xin trả dần; chị N vợ anh T trình bày có biết việc anh T có vay tiền của ông S, cụ thể bao nhiêu tiền thi chi ̣ không nắm được , mục đích vay tiền để phát triển kinh tế gia
̀ đình. Xét thấy, lờ i khai của anh T, chị N phù hợp với lời khai của ông S. Như vâ ̣y, có thể khẳng định rằng việc anh T có nợ của ông S số tiền 540.000.000 đồng căn cứ, khi vay tiền chỉ có một mình anh T ký và nhận tiền, tuy nhiên việc vay tiền vì mục đích phát triển kinh tế gia đình, chị N đồng ý cùng anh T có N vụ thanh toán cho ông S. Tại phiên toà ông S cũng đề nghị anh T, chị N cùng có N vụ thanh toán cho ông S, theo quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình có quy định về N vụ chung về tài sản của vợ chồng “ Vợ chồng có các N vụ chung về tài sản sau đâu: N vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình” nên chị N có N vụ liện đới cùng với anh T thanh toán số nợ cho ông S. Nên yêu cầu khởi kiện của ông S yêu cầu anh T, chị N phải trả tiền nợ gốc 540.000.000đồng ( Năm trăm bốn mươi triê ̣u đồng )là có căn cứ được chấp nhận phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 463; Điều 466 và Điều 469 Bộ luật dân sự.
.Về lãi suất: Trong quá trình giải quyết vụ án ông S yêu cầu anh T, chị N phải trả tiền lãi từ khi 18/3/2022 cho đến khi xét xử sơ thẩm theo lãi xuất 10%/ năm. Quá trình giải quyết vụ án, anh T trình bày: khi vay tiền có thoả thuâ ̣n về tiền lãi là 1.300 đồng – 3.000 đồng/1 triê ̣u/ngày, hiê ̣n đa trã ̉ cho ông S tiền lai đến ngã
̀y 17/3/2022, và đã trả tiền lãi cho ông S nhiều lần và nhiều tiền , cụ thể bao nhiêu thì anh không khớ và anh không có tài liê ̣u chứ ng minh về viê ̣c trả lai cho ông̃
S và không có ý kiến gì về số tiền lãi đã trả. Đối với yêu cầu trả tiền lãi thì thấy : anh T trình bày vay với lãi suất 1.300 đồng – 3.000 đồng/1 triê ̣u/ngày; ông S trình bày khi vay lai suẫ
́t thoả thuâ ̣n miê ̣ng là 1%/tháng, do các bên có tranh chấp về lai suẫ
́t và không xác đi ̣nh được mứ c lai suẫ
́t . Tại phiên toà hôm nay , ông S đề nghị tính lãi theo mứ c lai s uẫ
́t 10%/năm, anh T đồng ý. Đối với yêu cầu trả tiền lãi c ủa ông S, do không xác đi ̣nh được mứ c lai suẫ
́t và các đương sự đồng ý với mức lãi xuất 10%/ năm, nên thuô ̣c trườ ng hợp không xác đi ̣nh được lai suẫ
́t thi lai suẫ
́t s ẽ được
̀ xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự tại thời điểm trả nợ, nên chấp nhận tính theo lãi suất 10%/ năm đối với yêu cầu tính lãi của ông S.
- Số tiền 540.000.000đồng tính lãi từ ngày 18/3/2022 đến khi xét xử sơ thẩm ( 15/6/2023) là 14 tháng, 29 ngày.
Số tiền 540.000.000đồng x lãi suất 10%/ năm = 540.000.000đồng x10%/ năm, tức 4.500.000đồng/tháng và 150.000 đồng/ngày) x 14 tháng, 29 ngày = 63.000.000 đồng + 4.350.000 đồng = 67.350.000 đồng tiền lãi
Tại phiên toà các bên thừa nhận sau ngày 17/03/2022 anh T, chị N đã thanh toán trả cho ông S số tiền 25.000.000đồng và đồng ý trừ vào tiền lãi sau khi tính lãi đến ngày xét xử, như vậy tiền lãi sẽ còn: 67.350.000 đồng – 25.000.000đồng = 42.350.000đồng.
Tổng số tiền gốc và lãi anh T phải thanh toán trả là: 582.350.000đồng, trong đó nợ gốc 540.000.000đồng , nợ lãi 42.350.000đồng.
. Về án phí: Ông Hà Văn S không phải chịu án phí, anh T, chị N phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng Điều 26; Điều 35 và Điều 39; Điều 147; Điều 184; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 469 Bộ luật dân sự; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
2 Xử: Buộc anh Trần Văn T, chị Hà Thị N phải trả cho ông Hà Văn S số tiền 582.350.000đồng,( Năm trăm tám mươi hai triệu, ba trăm năm mươi ngàn đồng) trong đó nợ gốc 540.000.000đồng, nợ lãi 42.350.000đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3 . Về án phí: Anh Trần Văn T, chị Hà Thị N phải chịu 27.294.000đồng án phí DSST.
Ông Hà Văn S không phải chịu án phí DSST.
4 . Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự .
Án xử công khai sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lạng Giang; - THADS huyện Lạng Giang; - Các đương sự; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Lê Thu Hà |