vanban.org

Bản án 26/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng VIB - Bùi Thị Phượng"
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự
!
!
!
!
!!!!!!!!!!!!!!!!!!TỈNH!BẮC!GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 26/2023/DS-ST
Ngày 24/5/2023
!
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!TÂN!YÊN,!TỈNH!BẮC!GIANG!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà:"Ông Giáp Quang Huy

Các"Hội"thẩm"nhân"dân: 1. Ông Trần Văn Thiện; "2. Ông Nguyễn Quốc Sửu."

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 và 24/5/2023, tại trụ sở Tòa án huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang,

tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 147/2022/TLST-DS ngày 04/11/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22 ngày 02/2/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 35 ngày 20/3/2023, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 08 ngày 20/3/2023; giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng VIB; địa chỉ: Tầng 1 và tầng 2, Tòa nhà SaiIingTower-111A Pasteur, Phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh S - Cán bộ Ngân hàng

thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam theo văn bản ủy quyền số 02082023 ngày 01/3/2023 của Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam (có mặt khi xét xử vắng mặt khi tuyên án).

- Bị đơn: Bà Bùi Thị Ph, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Trong, xã Tân Trung, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 14/6/2022 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn Ngân hàng VIB trình bầy:

Ngày 21/9/2020, Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam VIB-VIB Cầu Giấy và bà Bùi Thị Ph có ký kết hợp đồng tín dụng số 892007520, với các điều khoản: Khoản tín dụng 435.000.000 đồng, thời hạn vay 96 tháng kể từ ngày 22/9/2020 đến 21/9/2028, mục đích vay thanh toán tiền mua xe ô tô nhãn hiệu NISSAN, lãi suất tại thời điểm giải ngân 9,4%/năm (lãi suất ưu đãi và chỉ áp dụng trong 12 tháng đầu), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, trả tiền gốc và tiền lãi vào ngày 25 hàng tháng, số tiền trả gốc 4.540.000 đồng/tháng, số tiền gốc còn lại trả vào cuối kỳ, trả tiền lãi theo dư nợ thực tế, ngày trả tiền gốc, tiền lãi lần đầu vào ngày 25/10/2020, trả tiền gốc, tiền lãi cuối cùng vào ngày 21/9/2028; trả phí theo quy định của Ngân hàng VIB từng thời kỳ. Ngày 21/9/2020, Ngân hàng VIB-VIB Cầu Giấy đã giải ngân cho bà Ph số tiền 435.000.000 đồng, theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ của bà Ph.

Ngày 28/10/2020, bà Bùi Thị Ph đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế tại VIB-

VIB Cầu Giấy hạn mức 31.000.000 đồng, mục đích sử dụng tiêu dùng. Ngân hàng VIB-VIB Cầu Giấy đã chấp nhận phát hành thẻ tín dụng số tiền 31.000.000 đồng, theo yêu cầu của bà Ph.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay của hợp đồng tín dụng là chiếc xe ô tô nhãn hiệu

NISSAN, biển kiểm soát 98A-337.85, cùng bản chính giấy tờ sở hữu tài sản bảo đảm.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Bà Bùi Thị Ph đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ

gốc và nợ lãi phát sinh, cụ thể: Khoản vay của hợp đồng tín dụng số 892007520 ngày 21/9/2020 đã quá hạn thanh toán từ ngày 25/10/2021, VIB đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc trong hạn còn lại đối với khoản vay trên sang nợ quá hạn.

Tạm tính đến ngày 10/6/2022 bà Ph còn nợ Ngân hàng VIB tổng số tiền là

451.913.242 đồng, gồm có:

+ Dư nợ khoản vay của hợp đồng tín dụng số 892007520 ngày 21/9/2020 đã quá

hạn thanh toán từ ngày 25/10/2021 là 416.488.758 đồng (trong đó, nợ gốc là 380.520.000 đồng, nợi lãi là 32.623.788 đồng, nợ lãi quá hạn là 3.344.970 đồng).

+ Dư nợ của khoản vay của thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng ký ngày

28/10/2020 là 35.424.484 đồng (trong đó, nợ gốc là 22.411.217 đồng, nợ lãi và phí là 13.013.267 đồng).

Ngày 08/2/2023, Công ty đấu giá hợp danh vạn thành an đã đấu giá thành công

xe ô tô nhãn hiệu NISSAN, biển kiểm soát 98A-337.85 được số tiền là 280.000.000 đồng, sau khi trừ chi phí đấu giá còn lại số tiền là 253.288.600 đồng, Ngân hàng VIB chấp nhận trừ vào dư nợ gốc cho bà phượng, nên ngày 01/3/2023 Ngân hàng VIB đã rút một phần yêu cầu khởi kiện đòi tiền gốc số tiền là 253.288.600 đồng.

Như vậy, tính đến ngày 24/5/2023 bà Bùi Thị Ph còn dư nợ của khoản vay hợp

đồng tín dụng số 892007520 ngày 21/9/2020 tiền gốc là 127.231.400 đồng, tiền lãi là 45.092.571 đồng, tiền lãi quá hạn là 48.228.875 đồng. Tổng tiền gốc + tiền lãi là 220.552.846 đồng. Dư nợ của khoản vay thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng ký ngày 28/10/2020 tiền gốc 22.411.217 đồng, tiền lãi 10.928.673 đồng, tiền lãi quá hạn 25.451.049 đồng. Tổng tiền gốc + tiền lãi là 58.790.939 đồng.!

Do bà Ph vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên Ngân hàng VIB khởi kiện yêu cầu Tòa

án giải quyết:!!

+ Buộc bà Bùi Ph trả Ngân hàng VIB tiền gốc, tiền lãi còn nợ của hợp đồng tín

dụng số tiền là 220.552.846 đồng.

+!Buộc bà Bùi Thị Ph trả Ngân hàng VIB tiền gốc, tiền lãi còn nợ của thẻ tín

dụng số tiền là 58.790. 939 đồng.

Bà Ph phải tiếp tục chịu lãi theo hợp đồng và thẻ tín dụng kể từ ngày tiếp theo

của ngày xét xử sơ thẩm 24/5/2023 đến khi trả xong toàn bộ tiền nợ gốc.

Tài sản bảo đảm do Công ty đấu giá hợp danh vạn thành án đã đấu giá thành

công xe ô tô nhãn hiệu NISSAN, biển kiểm soát 98A-337.85, nên Ngân hàng VIB không yêu cầu Tòa án xem xét.

* Tại bản tự khai ngày 07/12/2022 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Bùi

Thị Ph trình bầy:

Bà xác nhận, ngày 21/9/2020, bà Bùi Thị Ph và Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam VIB-VIB Cầu Giấy có ký kết hợp đồng tín dụng số 892007520, với các điều khoản: Khoản tín dụng 435.000.000 đồng, thời hạn vay 96 tháng kể từ ngày 22/9/2020 đến 21/9/2028, mục đích vay thanh toán tiền mua xe ô tô nhãn hiệu NISSAN, lãi suất tại thời điểm giải ngân 9,4%/năm (lãi suất ưu đãi và chỉ áp dụng trong 12 tháng đầu), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, trả tiền gốc và tiền lãi vào ngày 25 hàng tháng, số tiền trả gốc 4.540.000 đồng/tháng, số tiền gốc còn lại trả vào cuối kỳ, trả tiền lãi theo dư nợ thực tế, ngày trả tiền gốc, tiền lãi lần đầu vào ngày 25/10/2020, trả tiền gốc, tiền lãi cuối cùng vào ngày 21/9/2028; trả phí theo quy định của Ngân hàng VIB từng thời kỳ. Ngày 21/9/2020, Ngân hàng VIB-VIB Cầu Giấy đã giải ngân cho bà Ph số tiền 435.000.000 đồng, theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ của bà Ph.

Ngày 28/10/2020, bà Bùi Thị Ph có đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế tại

VIB-VIB Cầu Giấy hạn mức 31.000.000 đồng, mục đích sử dụng tiêu dùng. Ngân hàng VIB-VIB Cầu Giấy đã chấp nhận phát hành thẻ tín dụng số tiền 31.000.000 đồng, theo yêu cầu của bà Ph.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay của hợp đồng tín dụng là chiếc xe ô tô nhãn hiệu

NISSAN, cùng bản chính giấy tờ sở hữu tài sản bảo đảm.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Đến nay bà mới trả Ngân hàng khoản vay hợp

đồng tín dụng ngày 21/9/2020 và khoản vay của thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/10/2020, tổng số tiền là 346.895.861 đồng tiền gốc và tiền lãi, trong đó có số tiền đấu giá tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu NISSAN, biển kiểm soát 98A-337.85, bà đã được Ngân hàng thông báo về kết quả đấu giá tài sản bảo đảm, nên bà không có yêu cầu gì về kết quả đấu giá nêu trên.

Nay bà xác nhận còn nợ khoản vay của hợp đồng tín dụng tiền gốc 127.231.400

đồng và tiền lãi tính tiếp theo; nợ của khoản vay thẻ tín dụng quốc tế tiền gốc 22.411.217 đồng và tiền lãi tính tiếp theo.!!

Do bà vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên bà nhất trí trả Ngân hàng các khoản tiền còn

nợ nêu trên, song hiện bà gặp khó khăn về kinh tế, nên bà xin đựơc trả tiền gốc bằng nhiều đợt và bà xin Ngân hàng cho bà tiền lãi.

Tại phiên tòa: Bà Bùi Thị Ph vắng mặt không có lý do. Đai diện hợp pháp của

Ngân hàng VIB trình bầy ý kiến giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.

Đại diện Viện kiểm sát trình bầy ý kiến:

- Về tố tụng : Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ trình

tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án giao các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do.

- Về quan hệ pháp luật: Đây là quan hệ tranh chấp về “Hợp đồng tín dụng” theo

quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản

1 Điều 39, Điều 157, Điều 146, Điều 157, Điều 165, khoản 2 Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 90, Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 351, Điều 357 Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Đề nghị HĐXX: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VIB.

Buộc bà Bùi Thị Ph trả Ngân hàng VIB khoản vay còn nợ của hợp đồng tín dụng

số 892007520 ngày 21/9/2020 số tiền nợ gốc, tiền nợ lãi (tạm tính đến ngày 22/5/2023) là 220.401.214 đồng.

!Bà Bùi Thị Ph phải tiếp tục chịu lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng kể

từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm 24/5/2023 đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ gốc.

Buộc bà Bùi Thị Ph trả Ngân hàng VIB khoản vay còn nợ của thẻ tín dụng quốc

tế phát hành ngày 28/10/2020 số tiền nợ gốc, tiền nợ lãi là 58.790.939 đồng.!!

Bà Bùi Thị Ph phải tiếp tục chịu lãi theo quy định của thẻ tín dụng quốc tế kể từ

ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm 24/5/2023 đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ gốc. !

- Về án phí: Bà Ph phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà

và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Ngày 14/6/2022 Ngân hàng

(VIB) khởi kiện bà Bùi Thị Ph, đây là vụ án phát sinh trong lĩnh vực dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

[2] Về tố tụng: Bị đơn bà Ph đã được Tòa án giao Quyết định đưa vụ án ra xét

xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Quyết định tạm ngừng phiên tòa hợp lệ, nhưng bà Ph vắng mặt tại các phiên tòa lần thứ 2 không có lý do, nên Tòa án xé xử vắng mặt bà Ph theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung: Ngày 21/9/2020, bà Ph vay của Ngân hàng (VIB) số tiền

435.000.000 đồng, thời hạn vay 96 tháng kể từ ngày 22/9/2020 đến 21/9/2028, mục đích vay thanh toán mua xe ô tô nhãn hiệu NISSAN, lãi suất tại thời điểm giải ngân 9,4%/năm (lãi suất ưu đãi và chỉ áp dụng trong 12 tháng đầu), lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, trả tiền gốc, tiền lãi vào ngày 25 hàng tháng, số tiền trả hàng tháng 4.540.000 đồng, số còn lại trả vào cuối kỳ. Ngày 21/9/2020 bà Ph đã nhận số tiền 435.000.000 đồng theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ.

Tài sản bảo đảm khoản vay của hợp đồng tín dung là chiếc xe ô tô NISSAN,

biển kiểm soát: 98A-337.85, cùng với bản chính giấy tờ sở hữu tài sản bảo đảm.

Ngày 28/10/2020, bà Ph đăng ký phát hành thẻ tín dụng tại Ngân hàng VIB-VIB

Cầu Giấy hạn mức tín dụng 31.000.000 đồng, mục đích sử dụng tiêu dùng và Ngân hàng VIB-VIB Cầu Giấy đã phát hành thẻ tín dụng số tiền 31.000.000 đồng cho bà Ph.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Bà Bùi Thị Ph đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ

gốc và nợ lãi phát sinh, cụ thể: Khoản vay của hợp đồng tín dụng số 892007520 ngày 21/9/2020 đã quá hạn thanh toán từ ngày 25/10/2021, VIB đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc trong hạn còn lại đối với khoản vay trên sang nợ quá hạn.

Tạm tính đến ngày 10/6/2022 bà Ph còn nợ Ngân hàng VIB tổng số tiền là

451.913.242 đồng, gồm có: Dư nợ khoản vay của hợp đồng tín dụng số 892007520 ngày 21/9/2020 đã quá hạn thanh toán từ ngày 25/10/2021 là 416.488.758 đồng (trong đó, nợ gốc là 380.520.000 đồng, nợ lãi là 32.623.788 đồng, nợ lãi quá hạn là 3.344.970 đồng). Dư nợ của khoản vay của thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng ký ngày 28/10/2020 là 35.424.484 đồng (trong đó, nợ gốc là 22.411.217 đồng, nợi lãi và phí là 13.013.267 đồng).

Ngày 08/2/2023, Công ty đấu giá hợp danh vạn thành an đã đấu giá thành công

xe ô tô nhãn hiệu NISSAN, biển kiểm soát 98A-337.85 được số tiền là 280.000.000 đồng, sau khi trừ chi phí đấu giá còn lại số tiền là 253.288.600 đồng và Ngân hàng VIB chấp nhận trừ vào dư nợ gốc, nên ngày 01/3/2023 Ngân hàng VIB đã rút một phần yêu cầu khởi kiện đòi tiền gốc số tiền là 253.288.600 đồng.

Tính đến ngày 24/5/2023 bà Ph mới trả được Ngân hàng VIB tổng số tiền của

khoản vay hợp đồng tín dụng ngày 21/9/2020 và số tiền của khoản vay thẻ tín dụng ngày 28/10/2020 là 307.768.600 đồng tiền gốc và tiền lãi 39.127.261, tổng số tiền đã trả là 346.895.861 đồng. Hiện còn nợ khoản vay của hợp đồng tín dụng tiền gốc 127.231.400 đồng, tiền lãi trong hạn 45.092.571 đồng, tiền lãi quá hạn 48.228.875 đồng. Còn nợ của khoản vay thẻ tín dụng tiền gốc 22.411.217 đồng, tiền lãi trong hạn 10.928.673 đồng, tiền lãi quá hạn 25.451.049 đồng.

Như vậy, theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng

thì bà Ph đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, do đó Ngân hàng VIB khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:!Buộc bà Bùi Thị Ph trả cho Ngân hàng VIB tiền gốc, tiền lãi còn nợ của khoản vay hợp đồng tín dụng số tiền là 220.552.846 đồng và tiền gốc, tiền lãi còn nợ của khoản vay thẻ tín dụng số tiền là 58.790. 939 đồng. Bà Ph phải tiếp tục chịu lãi theo hợp đồng và thẻ tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 24/5/2023 đến khi trả xong toàn bộ tiền nợ gốc là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Tài sản bảo đảm là chiếc xe ô tô nhãn hiệu NISSAN, biển kiểm soát 98A-337.85,

đã được đấu giá thành công, nay các bên không có yêu cầu gì, nên Tòa án không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí: Bà Ph phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo:"Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định

của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ, khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều

157, Điều 146, Điều 165, khoản 2 Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 90, Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 351, Điều 357 Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:

1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng

VIB.

2. Về số tiền phải trả: Buộc bà Bùi Thị Ph trả Ngân hàng VIB khoản vay còn nợ

của hợp đồng tín dụng số 892007520 ngày 21/9/2020 số tiền nợ gốc, tiền nợ lãi là 220.552.846 đồng.

!Bà Bùi Thị Ph phải tiếp tục chịu lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng kể

từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm 24/5/2023 đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ gốc. !

Buộc bà Bùi Thị Ph trả Ngân hàng VIB khoản vay còn nợ của thẻ tín dụng quốc

tế phát hành ngày 28/10/2020 số tiền nợ gốc, tiền nợ lãi là 58.790.939 đồng.!!

Bà Bùi Thị Ph phải tiếp tục chịu lãi theo quy định của thẻ tín dụng quốc tế kể từ

ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm 24/5/2023 đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ gốc. !

3. Về án phí: Bà Bùi Thị Ph chịu 13.967.189 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả Ngân hàng VIB tiền tạm ứng án phí 11.040.000 đồng đã nộp theo biên

lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011922 ngày 04/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự (có mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời

hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ