vanban.org

Bản án 26/2023/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 20/02/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn C, buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị H phải liên đới trả cho vợ chồng ông Dương Văn C, bà Ngụy Thị Utổng số tiền là 1.

Án phí DSST: Ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị H phải liên đới nộp 27.713.195 đồng(hai mươi bẩy triệu, bẩy trăm mười banghìn, một trăm chín mươi năm đồng chẵn) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Cung - Bnh Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn C, buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị H phải liên đới trả cho vợ chồng ông Dương Văn C, bà Ngụy Thị Utổng số tiền là 1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/DS-PT.
Ngày: 20/02/2023
V/v:“Tranh(chấp(Hợp(đồng(vay(tài(
sản”.(

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành"phần"hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:"

Thẩm(phán-(chủ(toạ(phiên(toà: Bà Phạm Thị Minh Hiền.

Các(thẩm(phán:

Ông Nguyễn Việt Hùng;

Ông Đặng Văn Quyết.

Thư"ký"phiên"toà: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

" Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"tỉnh"Bắc"Giang: Ông Đặng Văn Thìn– Kiểm sát viên.

Ngày 20/02/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2022/TLPT- DS ngày 03/11/2022 về việc: “Tranh(chấp(Hợp(đồng(vay(tài(sản”.(

Do bản án dân sự sơ thẩm số 72/2022/DS-ST, ngày 16/8/2022của Toà án nhân dân huyện H bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 200/2023/QĐ-PT ngày

06/12/2023và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐ-PT ngày 03/01/2023 giữa:

Nguyên đơn:Ông Dương Văn C, sinh năm 1973,(có mặt).

Địa chỉ: Thôn B, xã Hoàng A, huyện H, tỉnh Bắc Giang

Bị đơn:Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1972, (có mặt).

Địa chỉ: Thôn H, xã Hoàng A, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Ngụy Thị U, sinh năm 1975, vợ ông C, cùng địa chỉ với ông C, (có mặt).

2. Bà Lê Thị H, sinh năm 1974, vợ ông B, cùng địa chỉ với ông B, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là ông Dương Văn C và bà Ngụy Thị U (vợ ông C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) đã trình bày:Do có mối quan hệ quen biết với ông Nguyễn Văn B nên vợ chồng ông C có nhiều lần cho vợ chồng ông B vay tiền. Tính đến nay ông C còn nợ tổng số tiền là 1.103.000.000 đồng, cụ thể như sau:

Ngày 28/8/2016, (âm lịch), cho vay 903.000.000 đồng;

Ngày 12/9/2016 (âm lịch) cho vay 200.000 đồng. Cả hai lần cho vay ông B đều viết Giấy vay tiền và ký nhận nợ, hai bên thỏa thuận miệng về lãi suất là 1,5%/tháng.

Đối vớisố tiền vay 903.000.000 đồng theo “Giấy vay tiền” ngày 28/8/2016,(âm lịch) mà ông B đã ký nhận thực chất là được chốt từ 2 khoản vay trước bao gồm: Khoản vay 790.000.000 đồng,ngày 27/12/2015 âm lịch vàkhoản vay 200.000.000 đồng, ngày 25/5/2016 (âm lịch). Tổng tiền gốc của cả 02 khoản vay này là 990.000.000đồng. Trong đó ngày 28/8/2016, (âm lịch) ông B đã trả được 280.000.000đồng, hai bên thỏa thuận trừ số tiền này vào tiền lãi, số tiền còn thừa là 87.000.000đồng được trừ vào tiền gốc 990.000.000 đồng nên số tiền gốc còn là 903.000.000đồng.

Ngoài các khoản vay này, trước đây, ông B còn nhiều lần vay tiền của ông C với tổng số tiền gốc là 1.200.000.000đồng, cụ thể như sau:

Ngày 09/6/2015 (âm lịch), vay 200.000.000đồng;

Ngày 09/9/2015 (âm lịch), vay 800.000.000đồng;

Ngày 14/9/2015 (âm lịch), vay 100.000.000đồng;

Ngày 03/12/2015 (âm lịch), vay 100.000.000đồng.

Đối với các khoản vay này, khi vay tiền, ông B cũng có ký Giấy biên nhận. Nhưng các khoản vay này, ông B đã thanh toán xong bằng việc 10 lần ông Bchuyển tiền qua tài khoản số 2505179633673 của bà Ngụy Thị U là vợ ông C tại Ngân hàng Agribank Chi nhánh huyện H, tỉnh Bắc Giang)với tổng số tiềnlà 1.200.000.000 đồng, cụ thể như sau:

-Ngày 28/02/2017 chuyển tiền 100.000.000 đồng;

- Ngày 01/8/2017 chuyển tiền 100.000.000 đồng;

- Ngày 28/9/2017 chuyển tiền 100.000.000 đồng;

-Ngày 04/10/2017 chuyển tiền 100.000.000 đồng;

-Ngày 18/5/2018chuyển tiền 300.000.000 đồng;

-Ngày 01/02/2019 chuyển tiền 100.000.000 đồng;

-Ngày 08/5/2019 chuyển tiền 50.00.0000 đồng;

-Ngày 18/12/2019 chuyển tiền 200.000.000 đồng;

-Ngày 20/11/2020 chuyển tiền 50.000.000 đồng;

-Ngày 20/7/2021 chuyển tiền 100.000.000 đồng.

Sau khi ông Bchuyển tiền vào tài khoảncủa bà Usố tiền là 1.200.000.000đồng thìông B đã trực tiếp đến gặp ông C để trả tiền lãi của các khoản tiền vay trên và gạch chéo vào các Giấy biên nhận vay tiền.

Đối với 02Giấy biên nhận nợ với tổng số tiềnvay là 1.103.000.000đồng tiền gốc thì ông B chưa trả tiền gốc và tiền lãi nên ông C vẫn chưa gạch. Việc ông B cho rằng ông B đã trả thừacho ông C số tiền 97.000.000 đồng qua tài khoản của bà U(vợ ông C) tại Ngân hàng là không đúng. Ông khẳng định tổng số tiền 1.200.000.000 đồng mà ông B đã 10 lần chuyển vào khoản cho bà U là để trả cho 4 khoản vay khác mà không phải là trả cho 02 khoản vay này. Nếu đúng là ông B trả tiền cho ông để trừ vào khoản vay này thì ông phải gạch 02 Giấy biên nhận nợ này đi.

Nay,ông C khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông B phải trả cho ông C tổng số tiền gốc là 1.103.000.000đồng và tiền lãi của số tiền trên theo lãi suất của Ngân hàng kể từ ngày vay đến nay.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị H vợ ông B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trình bầy:Ông Bthừa nhận một phần lời khai của nguyên đơn đối với tổng số tiền vay là 1.103.000.000 đồng theo 02 Giấy biên nhận nợngày 28/8/2016 (âm lịch) vàngày 12/9/2016 (âm lịch). Nhưng cả 2 khoản vay tiền này đều không thỏa thuận về tiền lãi

Sau khi vay tổng số tiền trên, từ năm 2017 đến năm 2021, vợ chồng ông bà đã 10 lần chuyển vào tài khoản của bà Ngụy Thị U là vợ ông C tại Ngân hàng Agribank Chi nhánh huyện H, tỉnh Bắc Giang tổng số tiền là 1.200.000.000 đồng để trả nợ 2 khoản vay trên cho vợ chồng ông C.

Ngoài các khoản vay này, trước đây, ông Bđã 04 lần vay tiền của ông C với tổng số tiền gốc là 1.200.000.000 đồng, khi vay tiền, ông B cũng có ký Giấy biên nhận nợ với ông Ccụ thể như sau:

Ngày 09/6/2015 (âm lịch), vay 200.000.000 đồng;

Ngày 09/9/2015 (âm lịch), vay 800.000.000 đồng;

Ngày 14/9/2015 (âm lịch), vay 100.000.000 đồng;

Ngày 03/12/2015 (âm lịch), vay 100.000.000 đồng.

Nhưng các khoản tiền vay này đã được ông B trả hết cho ông C bằng tiền mặt. Sau khi ông trả tiền mặt cho ông Cthì ông Cđã gạch chéo các Giấy biên nhận nợ này.

Nay, ông Bkhẳng định ông Bđã trả thừa tiền cho ông C bởi lẽ: Số tiền gốc ông B còn nợ ông C chỉ làlà 1.103.000.000 đồng theo 02 Giấy biên nhận nợngày 28/8/2016 (âm lịch) vàngày 12/9/2016 (âm lịch).Nhưng ông B đã chuyển vào tài khoản của bà U để trả cho các Giấy biên nhận nợ này tổng số tiền 1.200.000.000 đồng là đã trả thừa 97.000.000 đồng.

Việc ông C cho rằng ông B đã chuyển vào tài khoản của bà U để trả cho 04 Giấy biên nhận nợtừ ngày 09/6/2015 (âm lịch) đến ngày 03/12/2015 (âm lịch) với tổng số tiền vay 1.200.000.000 đồng là không đúng.

Đối với số tiền vay là 903.000.000 đồng theo “Giấy vay tiền” ngày 28/8/2016,(âm lịch) mà ông B đã ký nhận với ông Cthực chất là được chốt từ 2 khoản vay trước đó cụ thể gồm: Khoản vay 790.000.000 đồng, ngày 27/12/2015 âm lịch vàkhoản vay 200.000.000 đồng, ngày 25/5/2016 (âm lịch). Tổng tiền gốc của cả 02 khoản vay này là 990.000.000 đồng. Trong đó ngày 28/8/2016, (âm lịch) ông B đã trả cho ông Cđược 280.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận trừ số tiền này vào tiền lãi, số tiền còn thừa là 87.000.000 đồng được trừ vào tiền gốc 990.000.000 đồng nên số tiền gốc chỉ còn là 903.000.000 đồng.

Tính đến ngày 28/8/2016,(âm lịch), vợ chồng ông B chỉ còn nợ ông C tổng số tiền là 903.000.000 đồng. Điều này thể hiện tại Biên bản chốt nợ giữa 2 bên đã được ông lưu giữ trong quá trình tính toán tiền lãi, ông xin nộp cho Tòa án.Đến ngày 12/9/2016 (âm lịch),ông B mới vay thêm của ông C số tiền là 200.000 đồng.

Việcông B đãchuyển khoản thừa cho bà U số tiền 97.000.000 đồng là do ông B không để ý. Nay,ông C khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông B phải trả cho ông C tổng số tiền gốc 1.103.000.000 đồng và số tiền lãi của số tiền trên thì vợ chồng ông B không nhất trí.Việc ông B vay của ông C tổng số tiền 1.103.000.000 đồng nhưng khi vay tiền, hai bên không thỏa thuận về lãi suất.

Ông B có yêu cầu phản tố yêu cầu ông C phải trả cho ông C số tiền thừa là 87.000.000 đồng.

Do có nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 72/2022/DS-ST, ngày 16/8/2022của Toà án nhân dân huyện Hđã áp dụngcác Điều26, 35, 39, 147, 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 275, 288, 357, 463, 466, 468, 469 Bộ luật dân sự; các Điều 27, 37 Luật hôn nhân gia đình và các Điều 18, 26 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn C, buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị Hiệp phải liên đới trả cho vợ chồng ông Dương Văn C, bà Ngụy Thị U số tiền gốc còn lại 185.414.276đồng và tiền lãi suất là 19.932.000đồng. Tổng tiền gốc và tiền lãi là 205.346.276đồng (hai trăm linh năm triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn hai trăm bảy mươi sáu đồng)

- Án phí DSST: Ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị H phải liên đới nộp 10.267.300đồng (mười triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn ba trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Dương Văn C phải nộp 38.929.600đồng tiền án phía dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 22.545.000đồngông C đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0007803 ngày 17/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H, ông C còn phải nộp tiếp 16.384.600đồng (mười sáu triệu ba trăm tám mươi tư nghìn sáu trăm đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo, lãi suất chậm trả, quyền thi hành án cho các bên đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/8/2022, nguyên đơn là ông C nộp đơn kháng cáo; ngày 29/8/2022, bị đơn là ông B nộp đơn kháng cáo;

Tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Ckhông rút đơn khởi kiện và không rút đơn kháng cáo. Bị đơn là ông Bkhông rút đơn kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

+ Ông C trình bầy: Ông đã cho ông C vay 7 lần tiền với tổng số tiền vay là 2.303.000.000 đồng, nhưng ông B mới trả cho ông được 1.200.000 đồng. Ông B còn nợ ông 1.103.000.000 đồng thể hiện bằng 2 Giấy biên nhận mà ông đã nộp cho Tòa án. Số tiền ông B đã trả cho vợ chồng ông chỉ là 1.200.000 đồng bằng việc ông B chuyển khoản cho vợ ông tại Ngân hàng. Số tiền này là ông B là trả trả cho 4 khoản vay khác. Ông đã nộp cho Tòa án 4 Giấy biên nhận nợ của ông B đã bị gạch chéo sau khi ông B trả tiền cho vợ chồng ông. Việc ông B trình bầy là ngày 28/8/2016,(âm lịch), vợ chồng ông B chỉ còn nợ ông tổng số tiền là 903.000.000 đồng là không đúng. Số tiền 903.000.000 đồng là tổng của 02 khoản nợ của ông B theo Giấy biên nhận nợngày 28/8/2016 (âm lịch) vàGiấy biên nhận nợngày 12/9/2016 (âm lịch). Chữ viết “Chốt nợ ngày 28/8/2016 (âm lịch)” là do ông B tự viết và ký vào cuối tờ lịch và ông B nộp cho Tòa án, ông không lưu giữ chứng cứ này. Sau ngày 03/2/2023, Hội đồng xét xử có Quyết định tạm ngừng phiên tòa, ông B đã đến nói chuyện với vợ chồng ông, ông B đã xin lỗi và nhận sai với vợ chồng ông. Ông B còn xin vợ chồng ông là ông B sẽ trả tiếp cho ông số tiền còn nợ là 600.000.000 đồng, nếu số tiền trên chưa đủ thì ông B đề nghị vợ chồng ông cho ông B xin. Cuộc nói chuyện này đã được vợ chồng ông ghi âm vào điện thoại di động. Sau đó ông đã đến Văn phòng Thừa phát lại tỉnh Bắc Giang đê lập Vi bằng. Ông xin nộp Vi bằng này cho Tòa án. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ buộc ông B trả cho vợ chồng ông tổng số tiền gốc và tiền lãi là 205.346.276 đồng thì ông không đồng ý. Nếu ông B có tiền trả ngay cho ông số tiền 1.103.000.000 đồngthì ông đồng ý miễn toàn bộ tiền lãi cho ông B. Việc ông B đề nghị chỉ trả cho vợ chồng ông số tiền là 600.000.000 đồng thì ông không đồng ý.

+ Ông B trình bầy: Ông đã trả hết tiền cho ông C, hiện nay không còn nợ tiền của ông C. Ông còn trả thừa cho ông C 97.000.000 đồng. Bản án sơ thẩm đã buộc ông trả cho vợ chồng ông Ctổng số tiền gốc và tiền lãi là 205.346.276 đồng thì ông không đồng ý. Sau đó ông đã kháng cáo đề nghị ông C phải trả cho ông số tiền thừa là 97.000.000 đồng; ông cũng không đồng ý trả tiền lãi cho vợ chồng ông C.Nnưng nay, ông đề nghị hòa giải giữa 2 bên, ông đồng ý trả thêm cho vợ chồng ông C số tiền lãi là 600.000.000 đồng, nếu còn thiếu bao nhiêu tiền thì ông đề nghị vợ chồng ông C cho ông xin.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang áp dụng khoản 2, Điều 308Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận kháng cáo của Cường, không chấp nhận kháng cáo của ông B: Sửa Bản án sơ thẩm đã xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C,buộc vợ chồng ông B phải trả cho vợ chồng ông C tổng số tiền gốc là 1.103.000.000 đồng và tiền lãi của số tiền trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn là ôngDương Văn Ctrình bầy: Ông đã cho ông C vay 7 lần tiền với tổng số tiền vay là 2.303.000.000 đồng, nhưng ông B mới trả cho ông C được 1.200.000 đồng. Tính đến nay thì ông B còn nợ ông C tổng số tiền gốc là 1.103.000.000 đồng thể hiện tại 02 Giấy biên nhận nợ có chữ ký của ông Bcụ thể như sau:

Giấy biên nhận nợ ngày 28/8/2016, (âm lịch), số tiền vay là 903.000.000 đồng, (BL 15);

Giấy biên nhận nợ ngày 12/9/2016 (âm lịch),số tiền vay là 200.000 đồng, (BL 14).

Cả haiGiấy biên nhận nợ trên đều không ghi lãi suất nhưng theo ông C thì hai bên có thỏa thuận miệng về lãi suất là 1,5%/tháng.

Ngoài các khoản vay này, trước đây, ông B còn nhiều lần ký Giấy vay tiền của ông C với tổng số tiền gốc là 1.200.000.000 đồng, cụ thể như sau:

Ngày 09/6/2015 (âm lịch), vay 200.000.000 đồng, (BL 33);

Ngày 09/9/2015 (âm lịch), vay 800.000.000 đồng, (BL 16);

Ngày 14/9/2015 (âm lịch), vay 100.000.000 đồng, (BL 17);

Ngày 03/12/2015 (âm lịch), vay 100.000.000 đồng, (BL 18).

Đối với các Giấy biên nhận vay này do ông C xuất trình cho Tòa án đều đã bị gạch chéo, do ông B đã thanh toán xong, bằng việc ông B chuyển vào tài khoản của bà U vợ ông C tổng số tiền là 1.200.000.000 đồng.

Ông Cđã làm đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông B phải trả cho ông C tổng số tiền gốc là 1.103.000.000 đồng và tiền lãi của số tiền trên theo lãi suất của Ngân hàng kể từ ngày vay đến nay.

Ông B không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông C và cho rằng ông B đã trả hết tiền cho ông C bằng việc đã chuyển tiền vào tài khoản của bà U. Số tiền chuyển khoản còn nhiều hơn số tiền ghi trong 02 Giấy biên nhận vay tiền mà ông C xuất trình là 97.000.000 đồng.

Bản án sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn C, buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị H phải liên đới trả cho vợ chồng ông Dương Văn C, bà Ngụy Thị Utổng cả tiền gốc và tiền lãi là 205.346.276 đồng. Trong đó số tiền gốc là 185.414.276 đồng; tiền lãi là 19.932.000 đồng.

Sau khi xét xử, ông C và ông B đều kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm đã xử.

Ông Ckháng cáo đề nghị ông B phải trả cho ông Ctổng số tiền gốc là 1.103.000.000 đồng và tiền lãi của số tiền trên theo lãi suất của Ngân hàng kể từ ngày vay đến nay.

Ông B kháng cáo không đồng ý trả tiền lãi cho ông C, đề nghị ông C trả cho ông Bsố tiền thừa là 87.000.000 đồng vì lý do: Ông B thanh toán ông Ctổng số tiền 1.200.000.000 đồng bằng việc ông C đã 10 lần chuyển vào tài khoảnsố 2505179633673 của bà Ngụy Thị U là vợ ông C tại Ngân hàng Agribank Chi nhánh huyện H, tỉnh Bắc Giang).

Xét kháng cáo của ông C và ông B về số tiền nợ gốc, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với số tiền vay 903.000.000 đồng theo “Giấy vay tiền” ngày 28/8/2016,(âm lịch) mà ông B đã ký nhận cả 2 bên thừa nhậnlà được chốt từ 2 khoản vay trước bao gồm: Khoản vay 790.000.000 đồng,ngày 27/12/2015 âm lịch, (BL 34) vàkhoản vay 200.000.000 đồng, ngày 25/5/2016 (âm lịch), (BL 19). Tổng tiền gốc của cả 02 khoản vay này là 990.000.000 đồng. Trong đó ngày 28/8/2016, (âm lịch) ông B đã trả cho ông C được 280.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận trừ số tiền này vào tiền lãi, (192.990.000 đồng), số tiền còn thừa của ông B là 87.010.000 đồng,(được làm tròn thành 87.000.000 đồng)được trừ vào tiền gốc 990.000.000 đồng, nên số tiền gốc ông Bchỉ còn nợ là 903.000.000 đồng. Hai bên thống nhất viết lại “Giấy vay tiền” ngày 28/8/2016,(âm lịch) (chính là giấy biên nhận nợ mà ông C đang khởi kiện đòi tiền ông B).

Khi 2 bên tính toán tiền lãi và khấu trừ số tiền 280.000.000 đồng của ông B được viết vào mặt sau của tờ lịch và giao cho ông B giữ, ông B đã xuất trình cho Tòa án, (BL 76).Tại phần cuối của tờ lịch này có dòng chữ “Đồng ý chốt nợ 903.000.000 đồng, (chín trăm linh ba triệu đồng chẵn) và chuyển thành giấy vay mới ghi ngày 28/8/2016 âm lịch- Ký tên Nguyễn Văn B”.

Theo ông C thì “Giấy vay tiền” ngày 28/8/2016,(âm lịch) chỉ thể hiện việcchốt nợ củakhoản vay 790.000.000 đồng theo Giấy biên nhận vay tiền đềngày 27/12/2015 âm lịch, (BL 34) vàkhoản vay 200.000.000 đồng theo Giấy biên nhận vay tiền đềngày 25/5/2016 (âm lịch), (BL 19) mà không phải là chốt của tất cả các khoản vay như ông B đã trình bầy.

Xét thấy: Thực tế thì các Giấy biên nhận vay tiền ngày 27/12/2015 âm lịch, (BL 34) vàGiấy biên nhận vay tiền ngày 25/5/2016 (âm lịch), (BL 19) do ông C xuất trình cho Tòa án đều đã bị gạch chéo và phía bị đơn là ông B cũng thừa nhận chữ viết “Đồng ý chốt nợ 903.000.000 đồng” là của ông B viết, nên lời trình bầy của ông C về việc “Giấy vay tiền” ngày 28/8/2016,(âm lịch) chỉ thể hiện việc chốt nợ củakhoản vay 790.000.000 đồng theo Giấy biên nhận vay tiền đềngày 27/12/2015 âm lịch, (BL 34) vàkhoản vay 200.000.000 đồng theo Giấy biên nhận vay tiền đềngày 25/5/2016 (âm lịch) là có căn cứ. Do vậy không có căn cứ xác định ngày 28/8/2016,(âm lịch), các bên đã chốt nợ với nhau tất cả các khoản vay trước đó như ông B đã trình bầy

Theo ông B trình bầy thì tổng số tiền gốc mà ông B vay của ông C là 1.103.000.000 đồng. Nhưng ông B đã trả hết tiền cho ông C bằng việcông Bđã 10 lần chuyển tiền qua tài khoản số 2505179633673 của bà Ngụy Thị U là vợ ông C tại Ngân hàng Agribank Chi nhánh huyện H, tỉnh Bắc Giang) với tổng số tiền là 1.200.000.000 đồng, cụ thể như sau:

-Ngày 28/02/2017 chuyển tiền 100.000.000 đồng;

- Ngày 01/8/2017 chuyển tiền 100.000.000 đồng;

- Ngày 28/9/2017 chuyển tiền 100.000.000 đồng;

-Ngày 04/10/2017 chuyển tiền 100.000.000 đồng;

-Ngày 18/5/2018 chuyển tiền 300.000.000 đồng;

-Ngày 01/02/2019 chuyển tiền 100.000.000 đồng;

-Ngày 08/5/2019 chuyển tiền 50.00.0000 đồng;

-Ngày 18/12/2019 chuyển tiền 200.000.000 đồng;

-Ngày 20/11/2020 chuyển tiền 50.000.000 đồng;

-Ngày 20/7/2021 chuyển tiền 100.000.000 đồng.

Theo ông C thì sau khiông Bchuyển khoản cho bà U thì ông Bđã trực tiếp đến gặp ông C để trả tiền lãi của các khoản tiền vay trên và gạch chéo vào 04 Giấy biên nhận vay tiền ghi ngày 09/6/2015 (âm lịch); ngày 09/9/2015 (âm lịch); ngày 14/9/2015 (âm lịch); ngày 03/12/2015 (âm lịch), (cả 4 Giấy biên nhận này có tổng số tiền vay là 1.200.000.000 đồng).

Nay, ông B cho rằng 04 giấy biên nhận vay tiền trên đã được ông B trả cho ông C bằng tiền mặt và ông C đã gạch chéo, còn việc ông B chuyển tiền vào tài khoản của bà U là trả cho ông C theo 02 Giấy biên nhận vay ngày 28/8/2016, (âm lịch) và ngày 12/9/2016 (âm lịch). Nhưng lời trình bầy của ông B không được ông C thừa nhận. Ông B cũng không có chứng cứ để chứng minh. Thực tế thì 2 giấy biên nhận nợ mà ông C xuất trình để khởi kiện ông B vẫn chưa được gạch, điều đó thể hiện việc ông B vẫn còn nợ ông C với tổng số tiền là 1.103.000.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào lời trình bầy của ông B đã xác định ngày 28/8/2016,(âm lịch)các bên đã chốt nợ với nhau đối với tất cả các khoản vay trước đó và chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông C là không đúng, gây thiệt hại cho ông C. Bởi lẽ nếu ông B trình bầy là ông B chỉ nợ ông C tổng số tiền 1.103.000.000 đồng theo 02 Giấy biên nhận nợ, nhưng ông B lại trả vào tài khoản của vợ ông C tổng số tiền 1.200.000.000 đồng là trả thừa 97.000.000 đồng. Điều này là hết sức vô lý.

Nếu, ông B đã trả hết tiền cho ông C và trả thừa ông C số tiền 97.000.000 đồng thì không thể có việc ông B vẫn nhận lỗi với vợ chồng ông C và ông C vẫn đồng ý trả thêm cho vợ chồng ông Csố tiền là 600.000.000 đồng nữa.Nội dung nay thể hiện trong Vi bằng mà Văn phòng Thừa phát lại tỉnh Bắc Giang đã lập vào ngày 16/02/2023 và ý kiến của ông B tại phiên tòa phúc thẩm.

Như vậy, phải xác định: Vợ chồng ông C đã cho ông B vay 7 lần tiền với tổng số tiền vay là 2.303.000.000 đồng, nhưng ông B mới trả cho ông C được 1.200.000 đồng. Tính đến nay thì vợ chồng ông B vẫn còn nợ vợ chồng ông C tổng số tiền gốc là 1.103.000.000 đồng.

Từ sự phân tích nêu trên, cần chấp nhận kháng cáo củaông C, không chấp nhận kháng cáo củaông B, sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C buộc vợ chồng ông B phải trả cho vợ chồng ông C tổng số tiền gốc là 1.103.000.000 đồng.

Xét kháng cáo của ông C và ông B về số tiền lãi, Hội đồng xét xử xét thấy:

Mặc dù ông B cho rằng việc ông B vay tiền của ông C là không thỏa thuận về lãi. Tuy nhiên tại tài liệu do ông B xuất trình, (BL 76) đã thể hiện 2 bên có thỏa thuận về lãi và thực tế thì ông B đã trả tiền lãi cho ông C. Do vậy phải xác định ông C và ông B có thỏa thuận miệng về lãi suất. Do các bên có tranh chấp về lãi suất, ông C đồng ý tính lãi theo mức lãi suất cơ bản theo Ngân hàng Nhà nước quy định là 0,75%/tháng là phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận mức lãi suất này.

Như vậy, giữa 2 bên đương sự đã giao kết 02 Hợp đồng vay tài sản không có thời hạn trả nợ và có lãi suất theo khoản 2, Điều 469 BLDS.

Theo khoản 1 và khoản 5, Điều 466 quy định về nghĩa vụ trả nợ cho bên vay thì ông B phải trả tiền cho ông C theo 02 Giấy biên nhận nợ nói trên.

Từ sự phân tích nêu trên, cần chấp nhận kháng cáo củaông C, không chấp nhận kháng cáo củaông B, sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Buộc vợ chồng ông B phải trả cho vợ chồng ông Ctiền lãi của số gốc là 1.103.000.000 đồng.

Về số tiền lãi của số tiền trên:

Vợ chồng ông B chỉ yêu cầu vợ chồng ông C phải trả tiền lãi của số tiền trên theo mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước quy định từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/8/2022). Việc yêu cầu này của vợ chồng ông C là phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.

Việc tính tiền lãi cụ thể như sau:

+ Đối với tiền lãi của Giấy biên nhận nợ ngày 28/8/2016, (âm lịch), tức ngày 28/9/2016 (dương lịch), tính từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/8/2022) là 5 năm, 10 tháng, 13 ngày, {tức 70 tháng, 13 ngày hay (70 + 13/30) tháng}, số tiềngốc là 903.000.000 đồng;mức lãi suất cơ bản theo Ngân hàng Nhà nước quy định là 0,75%/tháng. Tiền lãi được tính là:

903.000.000 đồng x 0,75%/tháng x (70 + 13/30) tháng = 477.009.750 đồng.

+ Đối với tiền lãi của Giấy biên nhận nợ ngày 12/9/2016 (âm lịch), tức ngày 12/10/2016 (dương lịch), tính từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/8/2022) là 5 năm, 10 tháng 13 ngày,tức 70 tháng và 13 ngày (70 + 13/30) tháng,số tiền gốc là 200.000 đồng;mức lãi suất cơ bản theo Ngân hàng Nhà nước quy định là 0,75%/tháng. Tiền lãi được tính là:

200.000.000 đồng x 0,75%/tháng x (70 + 13/30) tháng = 105.650.000 đồng.

Tổng số tiền lãi của 2 Giấy biên nhận vay tiền là:

477.009.750 đồng + 105.650.000 đồng = 582.659.750 đồng.

Như vậy, tổng số tiền gốc và tiền lãi mà vợ chồng ông B phải trả cho vợ chồngông C là: 1.103.000.000 đồng + 582.659.750 đồng = 1.685.659.750 đồng.

Do sửa bản án sơ thẩm nên số tiền án phí dân sự sơ thẩm cũng cần sửa lại cụ thể như sau:

Vợ chồng ông B phải chịu số tiền án phí là: 12.000.000 đồng + 2% x 1.285.659.750 đồng= 27.713.195 đồng.

Do sửa bản án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 2, Điều 308 BLTTDS chấp nhận kháng cáo củaông C, không chấp nhận kháng cáo củaông B, sửa bản án sơ thẩm:

Áp dụng các Điều26, 35, 39, 147, 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 275, 288, 357, 463, 466, 468, 469 Bộ luật dân sự; các Điều 27, 37 Luật Hôn nhân gia đình và các Điều 18, 26 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 xử:

+ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn C, buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị H phải liên đới trả cho vợ chồng ông Dương Văn C, bà Ngụy Thị Utổng số tiền là 1.685.659.750 đồng, (một tỷ sáu trăm tám mươi năm triệu, sáu trăm năm mươi chín nghìn, bẩy trăm năm mươi đồng chẵn). Trong đó tiền gốc là: 1.103.000.000 đồng; tiền lãi là 582.659.750 đồng

+ Án phí DSST:

- Ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị H phải liên đới nộp 27.713.195 đồng(hai mươi bẩy triệu, bẩy trăm mười banghìn, một trăm chín mươi năm đồng chẵn) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn trả ông Dương Văn C số tiền 22.545.000đồngmà ông C đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0007803 ngày 17/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.

+ Án phí DSPT: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Hoàn trả ông Dương Văn C số tiền 300.000đồng mà ông C đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0008275 ngày 22/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.

Hoàn trả ông Nguyễn Văn B số tiền 300.000đồng mà ông C đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0008283 ngày 29/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi"nhận:

Cỡ chữ