- Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn văn q - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 26/2022/HSST Ngày: 06/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mộng Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Lương và ông Hồ Xuân An
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q, sinh năm 1975 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ dân phố L, phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ xây; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; con của ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị T (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị O; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2009. Về nhân thân: Từ nhỏ ở với gia đình đi học văn hóa đến lớp 8/12 thì nghỉ học. Ngày 03/12/2016, bị Công an thị xã Hương Trà xử phạt hành chính với số tiền 2.000.000 đồng vì có hành vi che giấu đánh bạc trái phép. Tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Lê Văn D (đã chết);
- Đại diện hợp pháp của bị hại Lê Văn D gồm: Ông Lê Văn H (cha ruột), bà Lê Thị D (mẹ ruột), chị Lê Thị My S (con ruột), bà Hồ Thị H (vợ); cùng trú tại: L, phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tất cả những người diện hợp pháp của bị hại đều ủy quyền cho bà Hồ Thị H tham gia tố tụng; bà H vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Trần Hữu N, ông Nguyễn Tiến D, ông Nguyễn Tiến D; cùng trú tại: Phường H, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 18/12/2021, tại đường liên tổ dân phố thuộc phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, Nguyễn Văn Q trực tiếp điều khiển xe tự chế 06 bánh để thực hiện việc đổ bê tông đường xóm thuộc Tổ dân phố La Chữ Thượng, phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi đổ bê tông xong, Q lùi xe theo hướng từ đường Hà Công –Quê Chữ để cho xe về hướng bãi tập kết vật liệu đã để xe tự chế do mình điều khiển va vào anh Lê Văn D đang đi bộ từ đường xóm ra và đứng phía sau xe gây tai nạn. Hậu quả: Anh Lê Văn D chết trên đường đi cấp cứu.
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn là tại đường liên tổ dân phố La Chữ Thượng, phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đoạn đường được đổ bê tông, thẳng, không bằng phẳng và tầm nhìn không bị hạn chế. Mặt đường rộng 03 mét. Ngay tại nơi xảy ra tai nạn, đoạn đường có đấu nối với đường “xóm Giái” rộng 3m50 tại thành ngã 3. Xe tự chế đang lùi theo hướng đường Hà Công – Quê Chữ, anh Lê Văn D đi bộ đang đứng phía sau. Điểm va chạm đầu tiên giữa xe tự chế và người đi bộ được xác định xảy ra ở phần đường liên tổ dân phố, cách mép đường phải 01 mét và cách tâm vùng dịch số 01 là 1m30 về phía đường Hà Công.
Trên cơ sở các dấu vết đã thu thập được tại hiện trường, phương tiện xác định: Nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông trên lỗi hỗn hợp. Lỗi của Nguyễn Văn Q điều khiển xe tự chế, tham gia giao thông đường bộ lùi xe thiếu chú ý quan sát phía sau, lùi xe nơi đường bộ giao nhau, không đảm bảo an toàn gây tai nạn vi phạm Điều 16 luật giao thông đượng bộ. Lỗi của Lê Văn D đi bộ từ đường xóm ra đường liên tổ dân phố không tuân thủ các quy định khi tham gia giao thông đối với người đi bộ, không đi sát mép đường vi phạm Điều 32 luật giao thông đường bộ.
Ngày 18/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hương Trà đã ra Quyết định số 03 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế xác định nguyên nhân chết đối với nạn nhân Lê Văn D.
Tại bản kết luận giám định số 764/GĐ ngày 24/12/2021 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận: Tử thi nam giới, thể trạng trung bình, lạnh, xác mềm, hoen mờ, đang hình thành tập trung mặt sau cơ thể. Vùng chẩm bên phải có vết bầm máu dưới da. Vùng mặt trái có nhiều vết trầy, rách da, bầm máu dưới da. Vùng mặt bên trái ép xẹp lồi sang bên phải, gây lồi nhãn cầu mắt phải ra ngoài. Vùng lưng có các vết trầy, bầm máu dưới da nằm dọc. Hai chân có nhiều vết bầm trầy da dạng lấm tấm. Hậu môn xuất phân, đầu dương vật xuất dịch đục. Xuất huyết não vùng trán trái. Gãy vỡ phức tạp xương gò má trái, xương hàm trên bên trái. Nguyên nhân chết: Đa chấn thương vùng đầu - mặt.
Qua giám định, tại thời điểm xảy ra tai nạn, mẫu máu Lê Văn D có nồng độ Ethanol là 168,7mg/100ml. Nguyễn Văn Q không sử dụng rượu bia và các loại chất ma tuý.
Ngày 28/12/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Hương Trà có Công văn gửi Sở giao thông vận tải tỉnh Thừa Thiên Huế xác định loại phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông là loại phương tiện gì. Việc điều khiển phương tiện đó có yêu cầu giấy phép điều khiển hay không.
Ngày 06/01/2022, Sở giao thông vận tải tỉnh Thừa Thiên Huế có Công văn số 15/SGTVT-QLVTPT xác định: Phương tiện trong vụ tai nạn được gọi là xe tự chế (còn được gọi là xe độ chế, xe bục bịch…). Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông “Từ ngày 01/01/2008 đình chỉ lưu hành ô tô đã hết niên hạn sử dụng, xe công nông, xe tự chế 3, 4 bánh…”. Do là loại phương tiện không thuộc đối tượng nêu trong luật giao thông đường bộ nên không có quy định nào của pháp luật về giấy phép điều khiển phương tiện này.
* Vật chứng hiện còn tạm giữ gồm: 01 xe tự chế 06 bánh; 01 áo khoác tay dài; 01 quần dài bằng vải thun.
* Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn Q đã thoả thuận bồi thường cho gia đình người bị hại tổng số tiền 110 triệu đồng. Bà Hồ Thị H đại diện theo ủy quyền của gia đình người bị hại đã nhận số tiền trên, không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 29/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 08 đến 10 tháng tù; về xử lý vật chứng đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước xe tự chế của Nguyễn Văn Q, tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng; về án phí bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra thị xã Hương Trà, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 12 giờ 00 ngày 18 tháng 12 năm 2021, tại đường liên tổ dân phố thuộc phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nguyễn Văn Q trực tiếp điều khiển xe tự chế lùi xe theo hướng từ đường Hà Công – Quê Chữ. Khi đến địa điểm trên do lùi xe không đảm bảo an toàn nên để xe tự chế va vào ông Lê Văn D đang đi bộ từ đường xóm ra và đứng phía sau xe gây tai nạn. Hậu quả: Ông Lê Văn D chết trên đường đi cấp cứu.
Xét nguyên nhân xảy ra tai nạn, tính chất lỗi, thấy rằng: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm các quy định pháp luật để đảm bảo an toàn cho những người đang tham gia giao thông khác, tuy nhiên, bị cáo đã không tuân thủ. Lỗi gây nên tai nạn giao thông là do bị cáo điều khiển xe tự chế tham gia giao thông, lùi xe thiếu chú ý quan sát phía sau, lùi xe nơi đường bộ giao nhau không đảm bảo an toàn gây tai nạn nên vi phạm Điều 16 Luật giao thông đường bộ. Lỗi của bị hại Lê Văn Dũng đi bộ từ đường xóm ra đường liên tổ dân phố trong tình trạng say rượu bia, không tuân thủ các quy định khi tham gia giao thông đối với người đi bộ, không đi sát mép đường nên vi phạm Điều 32 Luật giao thông đường bộ
Với hành vi, hậu quả và tính chất lỗi như trên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, thấy rằng: Bị cáo nhận thức rõ khi tham gia giao thông phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, để đảm bảo an toàn những người tham gia giao thông khác, nhưng bị cáo đã không chấp hành đúng, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông. Vì vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm vào tình tiết nào.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị hại Lê Văn D cũng có một phần lỗi khi không tuân thủ quy định khi tham gia giao thông. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để để xem xét, xử bị cáo hình phạt tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bản thân không có tiền án, tiền sự, lỗi gây ra tai nạn là lỗi hỗn hợp. Do đó, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường các khoản thiệt hại với tổng số tiền 110.000.000đ. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền này và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Xe tự chế 06 bánh của bị cáo theo quy định đã bị cấm lưu hành, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; 01 áo khoác tay dài, 01 quần dài bằng vải đã không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho UBND phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
Tịch thu sung quy Nhà nước 01 xe tự chế 06 bánh; tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác tay dài, 01 quần dài bằng vải
(Các vật chứng trên có đặc điểm như 02 Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/8/2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Hương Trà và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hương Trà)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT-Huế; - Sở Tư pháp tỉnh TT-Huế; - VKSND thị xã Hương Trà; - Công an thị xã Hương Trà (02 bản); - Chi cục THADS thị xã Hương Trà; - Bị cáo; Đại diện HPBH; - Lưu hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Mai Thị Mộng Trinh |