- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Thị Chung - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lâm Thị Ch phạm Tội đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2022/HSST. Ngày: 27/4/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Tình;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Thành Đô.
2. Bà Lê Thị Thận.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ tham gia phiên tòa: Ông An Bắc Lừng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26 và 27 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 18/2022/HSST ngày 21 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2022/QĐXXST–HS, ngày 12 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lâm Thị Ch, sinh năm 1970, tại tỉnh Quảng Ngãi.
Nơi cư trú: Thôn 5, xã Đk, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước.
Số căn cước công dân: Số 051170013979; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Đình Th2 và bà Lương Thị T1; bị cáo có chồng và 02 người con đã thành niên. Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 03/3/2021 bị Công an xã Đk, huyện BĐ xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa)
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thành Kh, thuộc đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Chi nhánh Văn phòng Luật sư N, số 210, Quốc lộ 14, khu ĐL, thị trấn ĐP, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị T, sinh năm 1984. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn 7, xã Đk, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước.
+ Bà Lê Thị Th1, sinh năm 1979. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu Đức Lập, thị trấn Đức Phong, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước.
+ Bà Trần Thị K, sinh năm 1952. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 5, xã Đk, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước.
+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 6, xã Đk, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước.
+ Bà Trần Thị PH1, sinh năm 1983. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 7, xã Đk, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước.
+ Nguyễn Thị H, sinh năm 1968. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 5, xã Đk, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 09/8/2021, Công an xã Đk, huyện BĐ bắt quả tang Lâm Thị Ch cùng với Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị L, Lê Thị Th1, Trần Thị K, Trần Thị T và Trần Thị PH1 đang đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức “Catte” tại nhà của Trần Thị T thuộc thôn 7, xã Đk. Thu giữ 01 bộ bài Tây 52 lá và 1.150.000 đồng.
Quá trình điều tra, truy tố xác định những người tham gia đánh bạc và sử dụng tiền đánh bạc như sau: T 200.000 đồng, thua 120.000 đồng; Ch 150.000 đồng, thua 120.000 đồng; L 200.000 đồng, thua 100.000 đồng; Th1 200.000 đồng, thắng 200.000 đồng; H 200.000 đồng, thắng 200.000 đồng; K 200.000 đồng, thua 100.000 đồng; PH1 không sử dụng tiền hay tài sản để đánh bạc mà chỉ ké bằng lời nói vào tụ của H, thắng 10.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 22/CT –VKS.BĐ, ngày 21/3/2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ truy tố bị cáo Lâm Thị Ch về Tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lâm Thị Ch phạm Tội đánh bạc. Về hình phạt đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Lâm Thị Ch từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Về hình phạt bổ sung không đề nghị áp dụng do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định. Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây; tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền phạm tội 1.150.000 đồng.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lâm Thị Ch thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt và các vẫn đề khác.
Quá trình điều tra, truy tố tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến về tội danh truy tố, không có yêu cầu giải quyết đối với số tiền tang vật bị thu giữ.
Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi của mình, cam kết không tái phạm. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT - Công an huyện BĐ, Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về sự có mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố đã có lời khai, không có ý kiến yêu cầu gì cần giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội và xác định tội danh: Ngày 09/8/2021, Lâm Thị Ch cùng với Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị L, Lê Thị Th1, Trần Thị K, Trần Thị T và Trần Thị PH1 có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức “Catte” tại nhà của Trần Thị T thuộc thôn 7, xã Đk, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước. Tổng cộng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 1.150.000 đồng. Mặc dù, số tiền bị cáo Lâm Thị Ch cùng những người khác tham gia đánh bạc chưa đến 5.000.000 đồng là định lượng tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 231 Bộ luật hình sự. Tuy nhiện, bị cáo Lâm Thị Ch đã bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc vào ngày 03/3/2021, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính nên hành vi phạm tội nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành Tội đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đối với Trần Thị T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị L, Lê Thị Th1, Trần Thị K, Trần Thị PH1 có hành vi đánh bạc thắng, thua bằng tiền cùng với bị cáo Lâm Thị Ch. Tuy nhiên, tổng số tiền đánh bạc là dưới 5.000.000 đồng. Những người đánh bạc nêu trên chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật Hình sự hoặc bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật Hình sự nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 12/01/2022, Công an huyện BĐ ra Quyết định xử phạt hành chính mỗi người 1.500.000 đồng là đúng quy định pháp luật.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái phép nhưng do ham muốn tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền nên cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự công cộng và nếp sống văn minh xã hội mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; bản thân bị bệnh viêm loét dạ dày trào ngược thực quản, sức khỏe yếu nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa Ch.
Xét bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo về chính quyền địa phương và gia đình giám sát giáo dục để bị cáo tự cải tạo mình trở thành người có ích cho xã hội thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, bị cáo là người đang trong độ tuổi lao động, bị cáo không có tài liệu thể hiện thuộc trường hợp gia đình có hoàn cảnh khó khăn và không được chính quyền địa phương xác nhận nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng vụ án: 01 bộ bài Tây gồm 52 lá đã qua sử dụng và số tiền 1.150.000 đồng dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy và nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là phù hợp.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về phần hình phạt, xử lý vật chứng, án phí là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Đối với đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lâm Thị Ch phạm Tội đánh bạc.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị Lâm Thị Ch 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/4/2022).
Giao bị cáo Lâm Thị Ch về Ủy ban nhân dân xã Đk, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng khoản 3 Điều 321 xử phạt bổ sung bị cáo Lâm Thị Ch số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tây gồm 52 lá đã qua sử dụng (theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 0009913 ngày 28/02/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện BĐ.
Tuyên tịch nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 1.150.000 đồng (theo "Giấy nộp tiền" ngày 04/3/2022 của Ngân hàng NN&PTNT chi nhánh huyện BĐ, tỉnh Bình Phước, người nộp tiền Ngô Văn V, người nhận tiền Chi cục thi hành án dân sự huyện BĐ, số tài khoản 39490104858500000)
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lâm Thị Ch phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại địa PH1 nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước; - VKSND tỉnh Bình Phước; - Công an tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện BĐ; - CCTHADS huyện BĐ; - Công an huyện BĐ; - UBND xã Đk; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lường Văn Tình |