vanban.org

Bản án 26/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 28/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để tạm giữ, tạm giam là ngày 17-12-2021. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định bên trong có 0,105 gam Heroin và 01 (một) mẩu gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đức phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN
--------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2022/HS-ST
Ngày: 28 - 03 -2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thịnh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Loan;

Ông Nguyễn Nhật Chiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Dương Thu Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 03 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2022/QĐXXST-QĐ ngày 17 tháng 3 năm 2022, đối với bị cáo:

Đ, sinh ngày 24/03/1983 tại Lạng Sơn; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường B, phường T, thành phố L. Chỗ ở: khu tái định cư M, phường V, thành phố L. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: H và bà O, Vợ: N, Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: 03 tiền án đã được xóa án tích: Bản án số 09/2009/HSST ngày 03/03/2009 Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Bản án số 162/2013/HSST ngày 24/10/2013 Tòa án nhân dân thành phố L xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Bản án số 197/2017/HSST ngày 29/11/2017 Tòa án nhân dân thành phố L xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn từ ngày 17/12/2021 đến nay, có mặt.

Người chứng kiến: Ông N, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 45 phút ngày 17/12/2021, Công an thành phố Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường L, phường V, thành phố L phát hiện, bắt quả tang Đ, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Đ 01 (một) gói giấy màu vàng (KT 01cm x 02cm) bên trong chứa chất bột màu trắng. Đức khai nhận là ma túy Heroin. Ngoài ra, thu giữ 01 (một) mảnh giấy màu xanh có in chữ MMT mang tên Đ – 14552090100xxx (th uống thuốc Methadone).

Bản kết luận giám định số 20/KL-PC09 ngày 18/12/2021 của Phòng K thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy Heroin có tổng khối lượng 0,122g (đã trừ bì).

Tại Cơ quan điều tra, Đ khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 17/12/2021 sau khi đi uống thuốc Methadone tại cơ sở điều trị Methadone thuộc đường B, phường T, thành phố L, Đ đi bộ đến khu vực ngõ L thuộc đường L, phường V, thành phố L để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, Đ gặp một người đàn ông tên L1 (không rõ lai lịch, địa chỉ), Đức hỏi mua 200.000đ (hai trăm nghìn) tiền ma túy Heroin thì được người đàn ông tên L1 đồng ý. L1 nhận tiền và đưa lại cho Đ 01 (một) gói giấy màu vàng bên trong chứa Heroin. Đ cất giấu gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên. Nhận thấy lời khai nhận về hành vi phạm tội của Đ là phù hợp với chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số: 27/CT-VKSTP ngày 03-03-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đ từ 16 đến 18 tháng tù. Căn cứ Điều 47, Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định; Trả lại bị cáo Đ 01 (một) mảnh giấy màu xanh có in chữ MMT mang tên Đ – 14552090100xxx (th uống thuốc Methadone).

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung vì bị cáo không có thu nhập ổn định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, bị cáo xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tòa án đã triệu tập người chứng kiến ông N, tại phiên tòa hôm nay ông N vắng mặt, trong hồ sơ đã có lời khai của ông N. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông N theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Hồi 11 giờ 45 phút ngày 17/12/2021, tại khu vực trước cửa số nhà 155, đường L, phường V, thành phố Lạng Sơn, Đ đang thực hiện hành vi tàng trữ 0,122 gam ma túy Heroin để sử dụng thì bị bắt quả tang. Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo Đ có đầy đủ năng lực hành vi, do vậy, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết tội bị cáo Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cũng như tệ nạn ma túy nói chung là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội khác. Hiện nay, việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Chính vì vậy, mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều phải bị xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.

Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử phạt hành chính. Bị cáo đã 3 lần bị xét xử cụ thể Bản án số 09/2009/HSST ngày 03/03/2009 Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Bản án số 162/2013/HSST ngày 24/10/2013 Tòa án nhân dân thành phố L xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Bản án số 197/2017/HSST ngày 29/11/2017 Tòa án nhân dân thành phố L xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, cả 3 bản án này bị cáo đều đã được xóa án tích. Bị cáo đã được pháp luật giáo dục cải tạo nhưng không tiến bộ, hiện nay bị cáo đang nghiện chất ma túy. Do đó bị cáo có nhân thân xấu.

Tiền án, tiền sự: Không.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mẹ bị cáo bà O được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, bố bị cáo ông H được tặng thưởng huy chương chiến s giải phóng hạng 3, là thương binh hạng 4/4, hàng tháng hưởng trợ cấp nên bố bị cáo là người có công với cách mạng, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm phục vụ lợi ích bất hợp pháp của bản thân. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản, nghiện chất ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo (biên bản xác minh ngày 12- 01-2022).

Đối với người đàn ông tên L1 bán ma túy cho Đ, do không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định bên trong có 0,105 gam Heroin và 01 vỏ gói giấy mà vàng ( cũ) là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, liên quan đến hành vi phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) mảnh giấy màu xanh có in chữ MMT mang tên Đ – 14552090100xxx (th uống thuốc Methadone) giấy tờ cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Do bị kết án nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã xảy ra, đúng với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn luật định theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, 47, 50 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để tạm giữ, tạm giam là ngày 17-12-2021.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định bên trong có 0,105 gam Heroin và 01 (một) mẩu giấy màu giấy màu vàng cũ;

Trả lại bị cáo Đ 01 (một) mảnh giấy màu xanh có in chữ MMT mang tên Đ –14552090100xxx (th uống thuốc Methadone)

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01 tháng 03 năm 2022).

4. Về án phí: Bị cáo Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ