- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2022/HS-ST Ngày 19-4-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Đinh Thế Cần;
2.Bà Nguyễn Thị Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Vũ Công Huân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2021/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 đối với:
Bị cáo Phạm Văn C sinh ngày 20/5/1977; tại: huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện Q, tỉnh Thái Bình ; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn Đ sinh năm 1951 và bà Đinh Thị Vsinh năm 1956; vợ: Nguyễn Thị L sinh năm 1983, con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2019;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 19/2016/HSST ngày 05/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Ninh G, tỉnh Hải Dương xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép C ma túy”, ngày 28/9/2016 chấp hành xong án phí, ngày 30/11/2017 chấp hành hình phạt tù. Quyết định số 87/QĐ-XPHC ngày 21/4/2020 của Công an huyện Q xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “trộm cắp tài sản”, thi hành xong ngày 22/4/2020.
Bị tạm giữ từ ngày 09/01/2022, đến ngày 12/01/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình
Người chứng kiến:
- Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1963
Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Q, tỉnh Thái Bình
- Ông Phạm Văn D, sinh năm 1972
Địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
(Tại phiên tòa có mặt bị cáo; vắng mặt ông H và ông D).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 08/01/2022, tại khu vực đường Thôn Đ, xã N, huyện Q, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện Q phối hợp với Công an xã N phát hiện Phạm Văn C đang đi bộ một mình có biểu hiện liên quan đến ma túy nên yêu cầu C về trụ sở Ủy ban nhân dân xã N để làm việc. Tại đây, trước sự chứng kiến của chính quyền địa phương và những người chứng kiến, tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại cạp quần bên trái phía trước C đang mặc 01 gói ni lông màu đen, bên trong là giấy trắng có dòng kẻ chứa C bột màu trắng dạng cục. C khai đó là Hêrôin vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý, niêm phong vật chứng để tiếp tục điểu tra làm rõ.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn C không thu giữ tài sản, đồ vật gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại bản kết luận giám định số 13/KLGĐMT-PC09 ngày 10/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận:
“Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,1968 gam (Không phẩy một nghìn chín trăm sáu mươi tám gam).
Hêroine STT: 09, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 và Nghị định số 60/2020 ngày 29/5/2020 của Chính phủ”.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 21 giờ ngày 08/01/2022, C đi xe ôm đến khu vực ngã ba T, huyện H, tỉnh Thái Bình mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Hêrôin với giá 200.000 đồng rồi giấu vào cạp quần bên trái, phía trước đang mặc rồi đi xe ôm về gần đến nhà thì xuống xe đi bộ tìm chỗ vắng để sử dụng thì bị Công an huyện Q phát hiện bắt quả tang.
Bản Cáo trạng số 29/CT-VKSQP ngày 22/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Thái Bình truy tố Phạm Văn C về tội “Tàng trữ trái phép C ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Phạm Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 50, điểm s, khoản 1 Điều 51và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/01/2022; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo được hoàn lại sau giám định;Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 và của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì; bị cáo nói lời sau cùng: nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận do nghiện ma túy nên bị cáo đã đi mua 01gói ma túy về sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Bị cáo đã đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng do Công an huyện Q lập ngày 08/01/2022, lời khai của người chứng kiến, bản kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 30 ngày 08/01/2022, tại khu vực Thôn Đ, xã N, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Phạm Văn C đã có hành vi cất giấu tại cạp quần bên trái phía trước 01 gói ma túy, loại hêrôin, có khối lượng 0,1968 gam (Không phẩy một nghìn chín trăm sáu mươi tám gam) nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
“Điều 249 Tội tàng trữ trái phép C ma túy
1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy, thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
...
c)Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam;
…
5.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Q truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Tệ nạn ma túy đang là mối quan tâm, nhức nhối của toàn xã hội, ma túy làm ảnh hưởng đến kinh tế, sức khỏe, làm suy thoái nòi giống và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy nhưng vì nghiện ma túy nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật với mức án tương xứng hành vi bị cáo đã gây ra, việc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để chấp hành hình phạt là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo riêng và có tác dụng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo thấy: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, đã bị kết án đều về tội liên quan đến ma túy, lần phạm tội này bị cáo thực hiện cũng liên quan đến ma túy. Điều đó cho thấy bị cáo đã được giáo dục cải tạo nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Như vậy, về hình phạt áp dụng đối với bị cáo như mức Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định, lại nuôi con nhỏ vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Do không có căn cứ xác định người đã bán ma túy cho bị cáo nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 01 gói chứa chất bột màu trắng dạng cục, kết quả giám định kết luận là ma túy loại hêrôin và hoàn trả mẫu vật sau giám định, đây là loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy số ma túy đã thu giữ còn lại sau giám định là phù hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2.Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51và Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phạm Văn C 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/01/2022.
3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,1457 gam (Không phẩy một nghìn bốn trăm năm mươi bẩy gam) Hêrôin thu của Phạm Văn C được niêm trong phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định ghi số 13/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm).
5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - Bị cáo; -VKSND h. Quỳnh Phụ; -VKSND tỉnh Thái Bình; - Công an &Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ; - TAND & Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình; - Cơ quan THA hình sự CA h. Quỳnh Phụ; - Trại tạm giam; - UBND xã N, huyện.Q; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Duyên (Đã ký) |