- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ HS Lê Quang D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Quang D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2022/HS-ST Ngày: 21/6/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THUỶ – TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Thạch
Ông Nguyễn Quang Nhã
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương, Thư ký viên chính Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện VKSND huyện Lệ Thuỷ tham gia phiên toà: Bà Lê Phan Lộc Nhung, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2022/TLST-HS ngày 11/5/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2022/QĐXXST-HS ngày 09/6/2022, đối với bị cáo:
Lê Quang D, sinh ngày 08/8/2000 tại xã D, huyện L, tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Thôn T, xã D, huyện L, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; không tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Quang D2, sinh năm 1968 và bà: Ngô Thị V, sinh năm 1971; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 05/02/2020, Lê Quang D bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng, về hành vi uống rượu say gây mất trật tự công cộng. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lệ Thủy từ ngày 20/01/2022, ngày 28/01/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, có mặt phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1954, địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
+ Anh Dương Công P, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
+ Anh Dương Văn Th, sinh năm 2002, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 19/01/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện L phối hợp với Công an xã M tuần tra kiểm soát trên địa bàn xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Khi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn L, xã M thì phát hiện Lê Quang D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 60B8- 756.64 có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện trên tay trái của Lê Quang D đang cầm một gói nilon màu đen, bên trong có chứa 11(mười một) viên nén dạng thuốc tân dược màu hồng, trên một mặt của mỗi viên nén đều có in chữ “WY”. D khai toàn bộ 11 viên nén trên là ma túy dạng hồng phiến, D mua về nhằm mục đích sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ số ma túy trên.
Tại Kết luận giám định số 188/GĐ-PC09 ngày 26/01/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 11(mười một) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng trên một mặt mỗi viên nén đều có in chữ “WY”gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 1,112g (một phẩy một trăm mười hai gam). Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Lệ Thủy tạm giữ 11 (mười một) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng có tổng khối lượng 1,112g Methamphetamine. Quá trình giám định sử dụng hết 0,128g Me thamphetamine, hoàn trả sau giám định 0,984g (không phẩy chín trăm tám mươi bốn gam) Methamphetamine được gói bằng túi nilon màu trắng, bên ngoài có kí hiệu chữ “A” và vỏ bao gói được đựng trong một phong bì thư trên có ghi “188/GĐ-PC09” “Mẫu kí hiệu A”, dán kín niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại SIRIUS, biển kiểm soát 60B8-765.64, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong. Ngày 04/4/2022, Cơ quan Điều tra đã trả lại xe mô tô nói trên cho người quản lý tài sản là bà Nguyễn Thị Th.
Tại bản cáo trạng số: 19/CT-VKSNDLT ngày 11/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thuỷ truy tố bị cáo Lê Quang D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Qua tranh luận tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lê Quang D từ 14 đến 16 tháng tù; vật chứng vụ án, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,984g (không phẩy chín trăm tám mươi bốn gam) Methamphetamine mẫu sau giám định và vỏ bao gói.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Lệ Thủy, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng không ai có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
. Chứng cứ xác định có tội và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Quang D khai nhận tất cả hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng. Bị cáo khai vào khoảng 22 giờ ngày 19/01/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô đi từ thôn T, xã D, huyện L, tỉnh Quảng Bình đi tìm có ai bán ma túy để mua về sử dụng, khi đến thôn L, xã M, huyện L thì gặp một người đàn ông không quen biết, bị cáo hỏi người đàn ông đó có biết chỗ nào bán ma túy không, thì người đàn ông đó nói, có ma túy bán và đồng ý bán cho bị cáo, bị cáo đã đưa cho người đó 1.100.000 đồng, người đó đưa cho bị cáo 11(mười một) viên nén màu hồng là ma túy hồng phiến, được gói trong túi nilon màu đen. Bị cáo cầm gói lilon màu đen trên tay chạy xe về nhà, khi đến đoạn đường cầu M thuộc thôn L, xã M, thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ số ma túy trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra đã thu thập đủ cơ sở kết luận: Ngày 19/01/2022, Lê Quang D đã có hành vi tàng trữ 11 viên ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 1,112g (một phẩy một trăm mười hai gam) nhằm mục đích sử dụng. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Điều khoản có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng cho sức khỏe con người, gieo sự hoang mang, lo lắng cho gia đình bị cáo nói riêng và toàn xã hội nói chung. Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra vụ án cũng như xét hỏi công khai tại phiên tòa, bị cáo luôn tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhất trí áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.
. Các tình tiết khác: Về nguồn gốc số ma túy mà Cơ quan Điều tra đã tạm giữ, Lê Quang D khai mua của một người đàn ông không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ nên không có cơ sở để xác minh, xử lý; xe mô tô BKS 60B8- 765.64 là của anh Dương Công T con trai bà Nguyễn Thị Th, do anh T đi làm ăn xa nên giao cho bà Th quản lý. Vào tối 19/01/2022, bà Th cho Dương Công P và Dương Văn Th mượn sử dụng, sau đó Th cho D mượn lại xe nhưng những người này không biết D sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy nên không phạm tội.
.Về vật chứng: 0,984g (không phẩy chín trăm tám mươi bốn gam) Methamphetamine mẫu sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành kèm vỏ bao gói cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
.Về án phí: Bị cáo Lê Quang D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
.Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Tuyên bố bị cáo Lê Quang D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Lê Quang D 15(mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ 08 ngày (từ ngày 20/01/2022 đến ngày 27/01/2022). Quyết định tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” 45 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo Lê Quang D để đảm bảo thi hành án (có quyết định riêng).
- Tịch thu và tiêu huỷ 0,984g (không phẩy chín trăm tám mươi bốn gam) Methamphetamine mẫu sau giám định kèm vỏ bao gói, có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy ngày 17/6/2022.
- Bị cáo Lê Quang D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/6/2022, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - VKSND h.Lệ Thủy; - VKSND t. Quảng Bình; - TAND tỉnh Q Bình; - Công an h.Lệ Thủy và ĐTV; - Sở Tư pháp t. Q Bình; - Bộ phận THAHS; - Lưu VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Thị Nhàn |