- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn G- Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2022/HS-ST Ngày: 22/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Phú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Quang.
2. Ông Nguyễn Đăng Khoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Thạch Văn Ớn – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Văn G, sinh năm 1965, tại Tiền Giang; nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ học vấn: lớp 02/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Ba và bà: Nguyễn Thị Tới (đã chết); vợ: Đỗ Thị Ron và có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1996; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại “có mặt”.
- Bị hại: Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1941 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Anh Võ Văn T, sinh năm 1990;
+ Ông Võ Văn D, sinh năm 1967;
+ Bà Võ Thị H, sinh năm 1970;
+ Chị Võ Thị H, sinh năm 1981;
Cùng cư trú: Ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
+ Anh Võ Văn H, sinh năm 1978;
Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
+ Bà Võ Thị L, sinh năm 1963;
Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
+ Ông Võ Văn Nn, sinh năm 1975;
Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
+ Chị Võ Thị Thanh H, sinh năm 1983;
Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
+ Chị Võ Thị Thanh N, sinh năm 1987;
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Đại diện theo ủy quyền của bà Võ Thị L, ông Võ Văn D, bà Võ Thị H, ông Võ Văn N, anh Võ Văn H, chị Võ Thị H, chị Võ Thị Thanh H, chị Võ Thị Thanh N: Anh Võ Văn T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang “có mặt”.
- Người làm chứng:
+ Chị Nguyễn Thị Thúy P, sinh năm 1979; nơi cư trú: ấp Lợi An, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang “có mặt”.
+ Ông Liêu Minh P, sinh năm 1972; nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 03 tháng 3 năm 2022, bị cáo Trần Văn G điều khiển xe gắn máy biển số 63FT-0353 của bị cáo lưu thông trên huyện lộ 19, theo hướng từ huyện lộ 19 đi cầu Việt Hùng. Khi đến đường giao nhau giữa huyện lộ 19 và huyện lộ 19B, thuộc ấp T, xã B, huyện Gò Công Tây, nơi có biển báo nguy hiểm đường giao nhau cùng cấp; do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ, đi không đúng phần đường quy định dẫn đến va chạm vào ông Võ Văn Đ đang đi bộ qua đường gây ra tai nạn. Hậu quả, ông Đ bị thương nặng, đến 03 giờ 10 phút ngày 04 tháng 3 năm 2022 thì tử vong.
Hiện trường vụ án là ngã ba giao nhau giữa huyện lộ 19 và huyện lộ 19B, đường được trãi nhựa tương đối bằng phẳng, tầm nhìn không hạn chế. Tại vị trí giao nhau không có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, chiều rộng mặt đường huyện lộ 19 nơi xảy ra tai nạn rộng 07 m, chiều rộng mặt đường huyện 19B rộng 04 m. Cách nơi xảy ra tai nạn 30 m trên tuyến huyện lộ 19 có đặt biển báo nguy hiểm “Đường giao nhau cùng cấp”.
Chọn mép đường bên trái huyện 19 theo hướng đường tỉnh 877 đi cầu Việt Hùng là mép chuẩn. Tâm vùng va chạm cách mép đường chuẩn 3m.
Theo bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 106/2022/TTh ngày 04 tháng 03 năm 2022 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Tiền Giang kết luận: Nguyên nhân tử vong tử thi Võ Văn Đ chấn thương sọ não kín do xuất huyết dưới màng cứng, dưới nhện, xuất huyết thân não. Phù não. Xuất huyết nhu mô não. Vỡ vòm sọ, sàng sọ do tai nạn giao thông.
Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn nêu trên là do bị cáo điều khiển xe đi không đi đúng phần đường quy định; không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.
Về vật chứng thu giữ: 01 xe gắn máy biển số 63FT- 0353, tình trạng phương tiện hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 63FT- 0353.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong số tiền 50.000.000 đồng theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại.
Bản cáo trạng số 22/CT-VKSGCT ngày 25 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây truy tố bị cáo Trần Văn G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Quyết định truy tố đối với bị cáo tại bản cáo trạng. Đồng thời phân tích các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 02 năm đến 03 năm tính từ ngày tuyên án.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận cho bị cáo đã bồi thường xong số tiền 50.000.000 đồng theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại.
- Về án phí: Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Trần Văn G nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận với lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Công Tây, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố và tội danh:
Trong quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận khi đến đường giao nhau giữa huyện lộ 19 và huyện lộ 19B thuộc ấp T, xã B, do nghe tiếng kêu nên bị cáo nhìn vào quán cà phê ven đường vì nghĩ là có người mua vé số, khi nhìn lại phía trước thì xe bị cáo chỉ còn cách ông Đ khoảng 03 m nên không xử lý kịp dẫn đến tai nạn.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với cáo trạng, vật chứng, lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
- Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 03 tháng 3 năm 2022, bị cáo Trần Văn G điều khiển xe gắn máy biển số 63FT-0353 lưu thông trên huyện lộ 19, theo hướng từ huyện lộ 19 đi cầu Việt Hùng. Do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ, điều khiển xe đi không đúng phần đường quy định dẫn đến va chạm vào ông Võ Văn Đ đang đi bộ qua đường làm ông Đ tử vong. Hành vi bị cáo đã vi phạm Điều 9 của Luật giao thông đường bộ.
Điều 9. Quy tắc chung
“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ…”
- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Trần Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, bản Cáo trạng 22/CT-VKSGCT ngày 25 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây và kết luận của đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người khác, là khách thể được pháp luật bảo vệ. Cụ thể trong vụ án này, bị cáo đã gây ra cái chết đáng tiếc cho ông Võ Văn Đ, đó là mất mát không gì bù đắp được đối với gia đình ông Đ. Hiện nay tình trạng vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, gây tai nạn xảy ra rất phổ biến trên phạm vi cả nước nói chung, địa bàn huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang nói riêng. Tai nạn giao thông thật sự là nỗi hoang mang đối với mọi người và hậu quả để lại là vô cùng to lớn. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người khuyết tật nặng, quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, có 01 con bị khuyết tật nặng đang được hưởng trợ cấp xã hội, bên cạnh đó đại diện hợp pháp của bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về vật chứng: 01 xe mô tô hai bánh biển số 63FT-0353, tình trạng phương tiện hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 63FT-0353 là tài sản hợp pháp của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo là người khuyết tật nặng nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về phần trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Trần Văn G 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Văn G cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Trần Văn G 01 (một) xe gắn máy 02 bánh, biển số 63FT-0353, tình trạng phương tiện hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe 63FT- 0353.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra huyện Gò Công Tây và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây ngày 26/7/2022).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn G.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Trần Văn G, anh Võ Văn T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh TG; - VKSND huyện GCT; - Cơ quan điều tra Công an huyện GCT; - Nhà tạm giữ Công an huyện GCT; - Chi cục THADS huyện GCT; - UBND xã B, huyện GCT, tỉnh TG; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, AV. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Phú |