- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2022/HS-ST Ngày: 18/4/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Minh Côn
2. Ông Nguyễn Quang Hợp
Thư ký phiên tòa: Vi Phương Linh, Thư ký TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như H, Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 4 năm 2022, tại TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đoàn Văn H; Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 08/01/1981
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm C, xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 01/12 ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Đoàn Văn H (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1948. Hiện làm ruộng tại xóm Cạn, xã Ký Phú, huyện Đại Từ. Gia đình có 02 anh, em bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Hoàng Thị N, sinh năm 1986; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2021 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh Thái Nguyên- có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
Ông Phạm Minh L, sinh năm 1949 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm D, xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 10 phút ngày 22/12/2021 Tổ công tác Công an xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn xóm Duyên, xã Ký Phú, huyện Đại Từ phát hiện 01 người đàn ông đang đi bộ có biểu hiện phạm tội liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiếp cận yêu cầu kiểm tra thì người đàn ông khai tên là Đoàn Văn H, đồng thời H tự giác giao nộp Tổ công tác 01 gói giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng được gói bằng giấy màu vàng (H khai là ma túy loại Heroine của H, mua về để sử dụng cho bản thân).Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm:
- 01 gói giấy vệ sinh màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng được gói bằng giấy màu vàng (Được niêm phong vào phong bì ký hiệu H).
Căn cứ các tài liệu điều tra xác minh, hồi 21 giờ 00 phút ngày 22/12/2021, CQĐT – Công an huyện Đại Từ tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Đoàn Văn H. Kết quả khám xét không thu giữ các đồ vật, tài liệu gì.
Hồi 22 giờ 30 phút ngày 22/12/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đại Từ đã phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của H trong phong bì niêm phong ký hiệu H có khối lượng: 0,173 gam. Lấy toàn bộ mẫu chất bột niêm phong vào phong bì ký hiệu H1 gửi giám định.
Tại kết luận giám định số 80/KL-KTHS ngày 30/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu H1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,173 gam.
Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKSĐT ngày28/3/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Đoàn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tạiđiểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Đoàn Văn H từ 18 đến 24 tháng tù.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng theo quy định; buộc bị cáo chịu án phí HSST theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan, bị cáo ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đại Từ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà ngày hôm nay, bị cáo đã khai nhận: Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy. Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 22/12/2021 bị cáo đi bộ từ nhà đến khu vực xóm Duyên, xã Ký Phú, huyện Đại Từ mục đích để mua Heroine về sử dụng cho bản thân. Khoảng 16 giờ cùng ngày bị cáo đi đến khu vực ki ốt xăng dầu thuộc xóm Duyên, xã Ký Phú khoảng 100m hướng đi lên xã Lục Ba, huyện Đại Từ thì gặp một người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ), bị cáo hỏi mua Heroine thì người này đồng ý. Bị cáo đưa cho người này 200.000 đồng, người này nhận tiền rồi đưa lại cho bị cáo 01 gói giấy, loại giấy vệ sinh màu trắng bên trong có 01 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy màu vàng. Bị cáo nhận gói Heroine, cầm ở tay trái rồi đi bộ về nhà để sử dụng. Khi đi đến khu vực ki ốt xăng dầu thuộc xóm Duyên thì gặp Tổ công tác Công an xã Ký Phú đang làm nhiệm vụ và yêu cầu kiểm tra. Do biết bản thân đang tàng trữ trái phép ma túy nên bị cáo đã tự giác giao nộp cho Tổ công tác gói ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng ông Phạm Minh Lý (BL 48) và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, kết luận giám định... Như vậy hành vi của bị cáo Đoàn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
...
c, Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
. Xét tính chất vụ án: Tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy cần xử lý bị cáo thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm về ma túy.
. Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra mẹ đẻ của bị cáo là bà Nguyễn Thị C được chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên tặng bằng khen vì có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, nhưng bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên bị cáo đã lao vào vào con đường phạm tội. Vì vậy cần, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, xử phạt bị cáo mức phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
. Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong ký hiệu H1; 01 phong bì niêm phong ký hiệu H2. Xét thấy đây là vật chứng liên quan đến vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc để có mức hình phạt cho phù hợp, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản cá nhân gì nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước và được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Về nguồn gốc ma túy loại Heroine, H khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực xóm Duyên, xã Ký Phú, huyện Đại Từ. Do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này nên CQĐT không có căn cứ để xem xét xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: Điểm c khoản1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn H 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 22/12/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng:Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu H1; 01 phong bì niêm phong ký hiệu H2.
(Tình trạng đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số 22/QĐ – VKSĐT ngày 28/3/2022của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí HSST sung ngân sách nhà nước.
Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên (1b); - Công an huyện Đại Từ (3b); - VKSND huyện Đại Từ (1b); - VKSND tỉnh Thái Nguyên(1b); - Chi cục THADS H. Đại Từ (1b); - THAHS (2b); - Bị cáo, NLQ (1b); - Thông báo cho UBND xã Ký Phú (1b); - Lưu hồ sơ (1b). | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Duy Khánh |