- Tranh chấp gì? án hình sự — "HS-ST - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Thị L phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2022/HS-ST Ngày: 27-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Công Dũng
Ông Bùi Quang Huân
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Diệu Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2022/HSST ngày 01/6/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-HS ngày 14/6/2022 đối với:
* Bị cáo: Phan Thị L, sinh ngày: 10/4/1956, tại xã Cẩm H, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Nam P, xã Cẩm L, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá:
Lớp 07/10; Nghề nghiệp: Bán hàng; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Con ông Phan Văn B (Đã chết), con bà Nguyễn Thị X (Đã chết); Chồng: Nguyễn Văn X (Đã chết); Con: Có bốn đứa, đứa lớn nhất sinh năm 1974, đứa nhỏ nhất sinh năm 1983; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã Cẩm Lộc, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 14/4/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Đình B, sinh năm 1960; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trú tại: Thôn Vinh S, xã Cẩm S, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trú tại: Thôn Lĩnh S, xã Cẩm S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
- Chị Phan Thị T, sinh năm 1968; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trú tại: Thôn Tiến T, xã Cẩm H, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 17 giờ 30 phút, ngày 30/12/2021, tại cửa hàng bán hàng tạp hóa của Phan Thị L, thuộc địa phận thôn Lĩnh S, xã Cẩm S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên phát hiện và lập biên bản, thu giữ của Phan Thị L 01 cuốn sổ ghi “Bảng Đề” của các đối tượng trực tiếp đánh với L vào ngày các ngày 28, 29 và 30/12/2021; số tiền 200.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động. Tại thời điểm bị bắt giữ, chưa có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng (Quay thưởng vào hồi 18 giờ 30 phút, ngày 30/12/2021) nên chưa tính phần thắng, thua của các đối tượng trong ngày 30/12/2021.
Quá trình điều tra xác định: Lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết của nhà nước, Phan Thị L đã nảy sinh ý định đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “Đề” nhằm thu lợi bất chính (Chơi số “Đề” bao gồm: số Đề, số Lô, số Đầu, Đít, số Ba càng và số Xiên). Để thực hiện ý định của mình, cuối tháng 12/2021, khi bán hàng tại cửa hàng của gia đình, Phan Thị L gặp một người đàn ông (Không rõ nhân thân, địa chỉ), đặt vấn đề với L ghi lô, đề, chuyển “Bảng Đề” cho người này để hưởng tiền hoa hồng nên L đồng ý. Sau khi ghi “Đề” của những người đánh trực tiếp với mình, L tổng hợp ghi ra giấy rồi người đàn ông (Không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể) trực tiếp đến gặp L nhận “Bảng Đề”, L được hưởng tiền hoa hồng từ tổng số tiền đã nhận của các con bạc.
Hình thức đánh Đề: Việc đánh bạc dưới hình thức ghi Lô, Đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng vào hồi 18 giờ 15 phút đến 18 giờ 30 phút hàng ngày làm căn cứ đối chiếu để phân định thắng, thua. Trên cơ sở kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng, có các hình thức đánh bao gồm: “Lô” là đánh 02 số cuối cùng của tất cả các giải thưởng (Một điểm Lô tương ứng với 20.000 đồng); “Đề” là đánh 02 số cuối cùng của giải đặc biệt; “Ba càng” là đánh 03 số cuối cùng của giải đặc biệt; “Xiên 2” là đánh chuỗi 02 cặp số cuối cùng của tất cả các giải thưởng; “Xiên 3” là đánh chuỗi 03 cặp số cuối cùng của tất cả các giải thưởng; “Đầu” là đánh số thứ tư của giải đặc biệt, cùng với các số cuối từ 0 đến 9; “Đít” là đánh số cuối cùng của giải đặc biệt cùng với số liền trước đó từ 0 đến 09. Khi người chơi đánh số Lô, Đề, Ba càng, Xiên, Đầu, Đít trùng với số tương ứng theo kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc của ngày hôm đó xác định là thắng, không trùng là thua. Nếu thắng “Đề” thì tỷ lệ là 01 ăn 70 lần; thắng “Đầu” hoặc “Đít” thì tỷ lệ là 01 ăn 07 lần; thắng 01 điểm “Lô” ăn 70.000 đồng; thắng “Ba càng” tỷ lệ là 01 ăn 350 lần; thắng “Xiên 2” tỷ lệ là 01 ăn 10 lần; thắng “Xiên 3” tỷ lệ là 01 ăn 40 lần. Nếu thua thì người tham gia đánh bạc phải trả cho “Chủ Đề” bằng số tiền mình đã đánh, ngược lại nếu thắng thì “Chủ Đề” phải trả cho người đánh Đề theo tỷ lệ quy định nêu trên.
Theo Phan Thị L trình bày thì người đàn ông (Không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể) thỏa thuận với L về tiền hoa hồng được hưởng là: Đề được hưởng 25% trên tổng số tiền đánh “Đề”, “Ba càng”, “Đầu”, “Đít”, “Xiên” mà mình ghi được; Đối với đánh “Lô” thì 01 điểm “Lô” tương ứng 20.000 đồng, L được hưởng 4%.
Đến 18 giờ hằng ngày, người đàn ông (Không rõ, nhân thân, địa chỉ cụ thể) sẽ đến trực tiếp thu (Bảng Đề). Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng thì người đàn ông (Không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể) sẽ đến gặp L tính toán số tiền ghi “Đề” thu được, trừ đi số tiền đánh trúng “Đề” phải trả cho những người đánh “Đề”, trừ đi tỷ lệ phần trăm mà L được hưởng theo thỏa thuận. Nếu thừa thì L phải trả cho người đàn ông (Không rõ địa chỉ cụ thể), nếu thiếu thì người đàn ông (Không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể) phải trả cho L để L trả cho những người trúng “Đề”.
Đối với những người đánh “Đề” thì L ghi những số mà họ đánh vào một mảnh giấy của vở học sinh. Sau khi có kết quả xổ số Miền Bắc tiến hành đối chiếu kết quả, nếu trúng “Đề” thì ngày hôm sau người đánh Đề đưa tờ giấy đó đến tgặp L nhận tiền trúng Đề. Trong các ngày 28/12/2021, 29/12/2021 và ngày 30/12/2021 Phan Thị L thực hiện đánh Lô, Đề cụ thể như sau:
1. Lần thứ nhất ngày 28/12/2021.
- Phan Thị L ghi của những người khách qua đường trực tiếp vào đánh với L nên không biết họ tên, địa chỉ cụ thể 35 số lô tương đương 481 điểm, tính thành tiền 481 x 20.000 đồng = 9.620.000 đồng; 15 số đề tương đương 560.000 đồng và 04 số xiên tương đương 300.000 đồng, tổng cộng 10.480.000 đồng. Thu lợi bất chính 599.800 đồng.
Đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày thì số lô mà khách qua đường đánh với Phan Thị L trúng 235 điểm lô, thành tiền là 235 x 70.000 đồng = 16.450.000 đồng. Tổng số tiền khách qua đường đánh bạc với Phan Thị L là: (10.480.000 đồng + 16.450.000 đồng) = 26.930.000 đồng. Phan Thị L và khách qua đường đã đối chiếu kết quả thắng thua và thanh toán tiền cho nhau.
- Ngoài ra, Phan Thị L còn tự mình đánh 03 số lô tương đương 15 điểm lô, tính thành tiền 15 x 20.000 đồng = 300.000 đồng với người đàn ông (Không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể).
Đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày thì số lô mà Phan Thị L đánh với người đàn ông (Không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể) trúng 10 điểm lô, thành tiền là 10 x 70.000 đồng = 700.000 đồng. Tổng số tiền Phan Thị L đánh bạc với người đàn ông (Không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể) được xác định là: (300.000 đồng + 700.000 đồng) = 1.000.000 đồng, thu lợi bất chính 700.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của Phan Thị L trong lần đánh bạc này được xác định là: (10.480.000 đồng + 16.450.000 đồng + 300.000 đồng + 700.000 đồng)= 27.930.000 đồng, thu lợi bất chính (611.800 đồng tiền hoa hồng + 700.000 đồng thắng bạc = 1.311.800. Phan Thị L và người đàn ông (Không rõ địa chỉ cụ thể) đã đối chiếu kết quả thắng thua và thanh toán tiền cho nhau.
2. Lần thứ hai ngày 29/12/2021.
+ Đối với các con bạc đánh với Phan Thị L.
- Nguyễn Đình B trực tiếp với L 03 số lô tương đương 15 điểm lô, tính thành tiền 15 x 20.000 đồng = 300.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày thì số lô mà Nguyễn Đình B đánh với Phan Thị L trúng 05 điểm lô, thành tiền là 05 x 70.000 đồng = 350.000 đồng; tổng tiền B thắng bạc là 350.000 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Đình B đánh bạc với Phan Thị L được xác định là: (300.000 đồng + 350.000 đồng) = 650.000 đồng, thu lợi bất chính 350.000 đồng. L và B đã đối chiếu kết quả thắng thua nhưng chưa thanh toán tiền cho nhau.
- Nguyễn Thị H trực tiếp với L 02 số lô tương đương với 10 điểm lô, tính thành tiền 10 x 20.000 đồng = 200.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày thì số lô mà H đánh với Phan Thị L không trúng, nên xác định tổng số tiền H đánh bạc với L là 200.000 đồng. H, chưa thanh toán cho L.
- Phan Thị L ghi của những người khách qua đường trực tiếp vào đánh 34 số lô tương đương 395 điểm, tính thành tiền 395 x 20.000 đồng = 7.900.000 đồng; 06 số đề tương đương 300.000 đồng và 06 số xiên tương đương 370.000 đồng, tổng cộng 8.570.000 đồng.
Đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày thì số lô mà khách qua đường đánh với Phan Thị L trúng 80 điểm lô, thành tiền là 80 x 70.000 đồng = 5.600.000 đồng; kép 77 x 50.000 đồng = 350.000 đồng. Tổng số tiền khách qua đường đánh bạc với Phan Thị L được xác định là: (8.570.000 đồng + 5.600.000 đồng + 350.000 đồng = 14.520.000 đồng. L và khách qua đường đã đối chiếu kết quả thắng thua và thanh toán tiền cho nhau.
Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của từng người trong lần đánh bạc này được xác định: Nguyễn Đình B (300.000 đồng + 350.000 đồng = 650.000đồng), thu lợi bất chính 350.000 đồng; Nguyễn Thị H 200.000 đồng, không thu lợi bất chính; khách qua đường (8.570.000 đồng + 5.600.000đồng + 350.000đồng = 14.520.000 đồng; Phan Thị L (650.000 đồng + 200.000 đồng + 14.520.000 đồng = 15.370.000 đồng), thu lợi bất chính 503.500 đồng. L và người đàn ông (Không rõ địa chỉ cụ thể) đã đối chiếu kết quả thắng thua và thanh toán tiền cho nhau.
3. Lần thứ ba ngày 30/12/2021.
+ Đối với các con bạc đánh với Phan Thị L.
- Nguyễn Đình B trực tiếp với L 02 số lô tương đương với 20 điểm lô, tính thành tiền 20 x 20.000 đồng = 400.000 đồng; 01 số đề tương đương 100.000 đồng. Tổng số tiền B đánh bạc với L được xác định là 500.000 đồng. B chưa thanh toán tiền cho L.
- Nguyễn Thị H trực tiếp với Phan Thị L 02 số lô tương đương với 10 điểm lô, tính thành tiền 10 x 20.000 đồng = 200.000 đồng; 01 số đề tương đương 10.000 đồng. Tổng số tiền H đánh bạc với L được xác định là 210.000 đồng. H chưa thanh toán tiền cho L.
- Phan Thị T trực tiếp với Phan Thị L 06 số lô tương đương với 35 điểm lô, tính thành tiền 35 x 20.000 đồng = 700.000 đồng; 02 số đề tương đương 20.000 đồng. Tổng số tiền Tiến đánh bạc với L được xác định là 720.000 đồng. Phan Thị T đã thanh toán tiền cho L.
- Phan Thị L ghi của những người khách qua đường trực tiếp vào đánh 24 số lô tương đương 200 điểm, tính thành tiền 200 x 20.000 đồng = 4.000.000 đồng; 09 số đề tương đương 175.000 đồng tiền đề và 02 số xiên tương đương 50.000 đồng tiền số xiên. Tổng số tiền khách qua đường đánh bạc với Phan Thị L được xác định là 4.225.000 đồng. Khách qua đường đã thanh toán tiền cho L.
Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của từng người trong lần đánh bạc này được xác định là: Nguyễn Đình B 500.000 đồng; Nguyễn Thị H 210.000 đồng; Phan Thị T 720.000 đồng; khách qua đường 4.225.000 đồng; Phan Thị L (500.000 đồng + 210.000 đồng + 720.000 đồng + 4.225.000 đồng = 5.655.000 đồng, thu lợi bất chính 4.945.000 đồng. Do thời điểm bị bắt Công ty xổ số Miền Bắc chưa mở thưởng nên chưa có kết quả phân định thắng, thua giữa các con bạc; Phan Thị L chưa chuyển bảng đề cho người đàn ông (Không rõ nhân thân, lai lịch).
* Tổng số tiền Phan Thị L và các con bạc sử dụng để đánh bạc với nhau từ ngày 28/12/2021 đến ngày 30/12/2021, cụ thể như sau:
- Phan Thị L: Thực hiện đánh bạc 03 lần (trong đó cả 03 lần đều trên 05 triệu đồng và dưới 50.000.000 đồng), với tổng số tiền (27.930.000 đồng + 15.370.000 đồng + 5.655.000 đồng) = 48.955.000 đồng. Trong đó, Phan Thị L và người đàn ông đã thanh toán cho nhau tổng số tiền 43.300.000 đồng (số tiền đánh bạc của ngày 28 và 29/12/2021), còn số tiền 5.655.000 đồng (ngày 30/12/2021) chưa thanh toán cho người đàn ông.
- Nguyễn Đình B: Thực hiện đánh bạc 02 lần đều có tang số dưới 05 triệu đồng, với tổng số tiền (650.000 đồng + 500.000 đồng) = 1.150.000 đồng. Nguyễn Đình B và Phan Thị L chưa thanh toán cho nhau.
- Nguyễn Thị H: Thực hiện đánh bạc 02 lần đều có tang số dưới 05 triệu đồng, với tổng số tiền (200.000 đồng + 210.000 đồng) = 410.000 đồng. Nguyễn Thị H chưa thanh toán cho Phan Thị L.
4. Phan Thị T: Thực hiện đánh bạc 01 lần có tang số dưới 05 triệu đồng, với tổng số tiền 720.000 đồng. Phan Thị T đã thanh toán tiền cho Phan Thị L.
* Về vật chứng: Trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên tiến hành thu giữ:
- 01 tờ tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành trị giá 200.000 đồng.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu đen, gắn sim số: 0859788125 và sim số có số seri: 89840509201324828469, đã qua sử dụng.
- 01 quyển vở học sinh, giấy kẻ ngang, bên trong ghi nhiều số lô, số đề; chuyển theo hồ sơ vụ án.
- 01 USB chứa hình ảnh ghi lại quá trình hỏi cung ghi hình có âm thanh đối với Phan Thị L, chuyển theo hồ sơ vụ án.
Với hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số: 20/CT-VKSCX ngày 30/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Phan Thị L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 36 BLHS.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Thị L mức án từ 24 đến 30 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo; Phạt bổ sung từ 15 đến 20 triệu đồng.
- Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 47.545.000đồng từ bị cáo Phan Thị L; số tiền 800.000đồng từ Nguyễn Đình B; số tiền 410.000đồng từ Nguyễn Thị H.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đồng thu của bị cáo; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động đã thu giữ.
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phan Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với Cáo trạng truy tố, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Trong thời gian 03 ngày (Từ 28/12/2021 đến 30/12/2021), tại địa phận thôn Lĩnh S, xã Cẩm S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, Phan Thị L đã lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày, thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền, nhằm thu lợi bất chính bằng hình thức đánh lô, đề. Phan Thị L đã 03 lần đánh bạc (Đều trên 5.000.000 đồng) với tổng số tiền 48.955.000đồng.
Hành vi trên của Phan Thị L đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Do đó, việc xét xử bị cáo về tội danh, điều luật như Cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình; bị cáo đang trực tiếp thờ cúng bác ruột là liệt sỹ; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, được chính quyền địa pH xác nhận. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về tính chất hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, gây dư luận xấu trong nhân dân, xâm phạm đến trật tự công cộng và nếp sống văn minh của xã hội. Tuy nhiên, xét thấy bản thân bị cáo là phụ nữ, hiện nay tuổi đã cao, sức khỏe yếu, bệnh tật thường xuyên; bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và đang trực tiếp thờ cúng liệt sỹ. Vì vậy, việc không buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội nên cần xem xét cho bị cáo được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ nghiêm, đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, thể hiện tính nhân đạo, nhân văn của pháp luật. Mặt khác, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, sống phụ thuộc vào con cái, có hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế được chính quyền địa pH xác nhận. Đồng thời, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền nên cần miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên tại phiên tòa.
Về biện pháp tư pháp: Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền là công cụ pH tiện phạm tội và tiền thu lợi bất chính từ bị cáo Phan Thị L và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, gồm: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 47.545.000đồng từ bị cáo Phan Thị L; số tiền 800.000đồng từ Nguyễn Đình B; số tiền 410.000đồng từ Nguyễn Thị H.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đồng thu của bị cáo; Đối với điện thoại di động gắn sim thu của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo; Đối với 01 quyển vở bên trong ghi nhiều số lô, số đề và 01 USB chứa âm thanh, hình ảnh ghi lại quá trình hỏi cung đối với bị cáo Phan Thị L, đây là vật chứng được chuyển cùng hồ sơ vụ án nên cần lưu cùng hồ sơ vụ án.
Đối với Người đàn ông nhận bảng “Lô, Đề” do Phan Thị L chuyển, do bị cáo khai không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với Nguyễn Đình B, Nguyễn Thị H, Phan Thị T thực các lần đánh bạc đều có số tiền dưới 5.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định B, H và Tiến có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, hành vi của Nguyễn Đình B, Nguyễn Thị H, Phan Thị T không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan điều tra đã ban hành Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền, đã thi hành xong ngày 10/5/2022 là có căn cứ.
Đối với những người khách qua đường trực tiếp đánh bạc với Phan Thị L, do khi các đối tượng đánh, L không ghi họ tên, địa chỉ cụ thể của họ nên không có cơ sở xác định.
Về án phí: Bị cáo thuộc đối tượng người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí. Căn cứ vào Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phan Thị L phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Phan Thị L 24 (Hai bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh nhận được bản án, Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Phan Thị L. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Phạt bổ sung 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Giao bị cáo Phan Thị L cho Uỷ ban nhân dân xã Cẩm L, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã Cẩm L, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian chấp hành án bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, Điểm b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 47.545.000đồng (Bốn mươi bảy triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) từ bị cáo Phan Thị L.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 800.000đồng (Tám trăm nghìn đồng) từ Nguyễn Đình B (Trú tại: Thôn Vinh S, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh)
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 410.000đồng (Bốn trăm mười nghìn đồng) từ Nguyễn Thị H (Trú tại: Thôn Lĩnh S, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh)
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Số tiền hiện đang tạm giữ tại số tài khoản 3949.0.9042387.00000 của Công an huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Trả lại cho Phan Thị L 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu đen, số kiểu máy VIVO 2015, IMEI1: 864739041632512, IMEI2: 864739041632504, gắn sim số 0859788125 và sim số có số seri 89840509201324828469, đã qua sử dụng.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/6/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh)
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 21, Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phan Thị L.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Cẩm Xuyên; - Chi cục THADS huyện Cẩm Xuyên; - Công an huyện Cẩm Xuyên; - THA.HS Công an huyện Cẩm Xuyên: - Sở tư pháp Hà Tĩnh; - Bị cáo, người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hoàng |